Nguyên tắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

TNV. Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ vùng biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân tộc ta.

Vùng biển nước ta nằm ở vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và quân sự, là cửa ngõ của các dòng giao thương hàng hóa giữa các nước ven Thái Bình Dương, từ Đông sang Tây, từ Nam đi Bắc. Vùng biển, đảo nước ta còn là vùng có tài nguyên phong phú cả về thủy hải sản, khoáng sản dầu mỏ… Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới tìm cách kiểm soát biển Đông-Thái Bình Dương, trong đó có nhiều thế lực muốn xâm lấn vùng biển đảo của nước ta.

Với hơn 3.200 km bờ biển, hàng nghìn hòn đảo và hàng vạn km2 vùng biển, công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc vô cùng khó khăn, phức tạp. Từ xa xưa, trong quá trình dựng nước và giữ nước, các thế hệ ông cha ta đã đổ bao xương máu, mồ hôi, nước mắt cho công cuộc đấu tranh giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, biện pháp nhằm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển, đảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn xa trông rộng đã có những chủ trương, quan điểm chỉ đạo công tác xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo kịp thời, đúng đắn và sáng tạo. Những quan điểm chỉ đạo đó luôn là kim chỉ nam, là nguyên tắc cho mọi hoạt động trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc:

Một là, bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Thực tế ở nước ta cho thấy, càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập sâu rộng quốc tế càng cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định thắng lợi hoạt động của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong đó có lĩnh vực bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Hai là, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là một bộ phận gắn liền với bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõi: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế nó sẽ vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước. Vì vậy ta phải giáo dục cho đồng bào biết bảo vệ bờ biển. Vì bọn địch thường thả bọn mật thám, gián điệp vào tìm chỗ nấp ở miền biển. Nếu để nó lọt vào, thì người bị thiệt hại trước là đồng bào miền biển. Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”.

Ba là, bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về phương pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải nắm vững nguyên tắc cứng rắn với sách lược mềm dẻo… lạt mềm nhưng buộc chặt”. Đều này thể hiện sâu sắc tư tưởng  “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giải quyết mọi công việc, nói chung và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, nói riêng.

Bốn là, Biển đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, là địa bàn chiến lược quan trọng của cách mạng nước ta, phải kiên quyết đấu tranh để bảo vệ, giữ gìn, không thể để bất cứ kẻ thù nào xâm phạm. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Bác thường căn dặn: “Phải coi biển như nhà mình, như quê hương mình và cải tạo nó thành những vùng trù phú, giàu đẹp vừa ích nước, vừa lợi nhà”. Chúng ta đã kiên trì đấu tranh giành chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Các cuộc đấu tranh ngoại giao, các cuộc trưng bày cứ liệu lịch sử, những căn cứ pháp lý được khai thác để chứng minh cho chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa được bạn bè quốc tế đồng tình.

Năm là, giải quyết vấn đề biển, đảo phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh song phương và đa phương, bình tĩnh, tỉnh táo, khôn khéo. Người nói: “Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”16.

Sáu là,  xây dựng quân đội tinh nhuệ, hiện đại để bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Nhận thức được ý nghĩa, vai trò quan trọng của công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong phát triển kinh tế và đặc biệt là trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, ngày 7-5-1955, với tư cách là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập Cục Phòng thủ bờ biển. Đây là đơn vị tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày nay. Đến thăm lực lượng hải quân, Người căn dặn: “Bờ biển ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”. Người yêu cầu: “Phải biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên”. Những tư tưởng đó là định hướng chiến lược sáng suốt cho lực lượng hải quân trước khi xảy ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ với miền Bắc. Đó cũng là những tiền đề cho tư duy nghệ thuật tác chiến biển của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 19-11-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất với Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa III ra Nghị quyết số 58/NQTW thành lập lực lượng vũ trang cách mạng chuyên trách công tác bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời và các đơn vị công an biên phòng và cảnh sát vũ trang. Như vậy, cùng với lực lượng quân đội, công an đang làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, hải đảo, Đảng và Bác Hồ vẫn quyết định tổ chức ra lực lượng công an nhân dân vũ trang – nay là bộ đội biên phòng, chuyên trách làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, hải đảo.

TS. Nguyễn Thị Tố Uyên

Viện Xây dựng Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *