Bảo hiểm thất nghiệp cần được nhìn như một chính sách giúp người lao động trở lại việc làm

Thứ hai, 07/09/2026 - 10:28

Sau 17 năm thực hiện, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) không chỉ là chỗ dựa về thu nhập khi người lao động mất việc. Từ tư vấn, giới thiệu việc làm đến hỗ trợ học nghề, chính sách này đang ngày càng thể hiện vai trò kết nối cung - cầu, cung cấp thông tin và hỗ trợ thị trường lao động vận hành hiệu quả hơn.

Bảo hiểm thất nghiệp cần được nhìn như một chính sách giúp người lao động trở lại việc làm - Ảnh 1.

Người lao động tìm hiểu thông tin việc làm, tiếp cận cơ hội tuyển dụng tại phiên giao dịch việc làm. (Ảnh: Quang Vượng)

Từ khoản trợ cấp đến cơ hội việc làm mới

BHTN đã trải qua chặng đường 17 năm và ngày càng khẳng định vai trò trong hệ thống an sinh xã hội. Cùng với quá trình mở rộng độ bao phủ, số người tham gia chính sách tăng đáng kể, từ khoảng 5,9 triệu người năm 2019 lên khoảng 17,05 triệu người vào quý II/2026.

Con số này cho thấy BHTN đang dần trở thành một bộ phận quen thuộc của quan hệ lao động, thay vì chỉ được nhắc đến khi người lao động rơi vào cảnh mất việc. Với doanh nghiệp, tham gia BHTN cũng ngày càng gắn với trách nhiệm bảo đảm quyền lợi người lao động, góp phần duy trì quan hệ lao động ổn định.

Khi mất việc, trợ cấp thất nghiệp trước hết giúp người lao động có một khoản thu nhập tạm thời để trang trải cuộc sống trong thời gian tìm công việc mới. Nhưng nếu chỉ nhìn BHTN ở khoản tiền được chi trả thì chưa phản ánh hết ý nghĩa của chính sách.

Người thất nghiệp còn có thể được tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế trong thời gian theo quy định. Những hỗ trợ này, nếu được thực hiện đúng và kịp thời, có thể rút ngắn đáng kể khoảng thời gian người lao động đứng ngoài thị trường lao động.

Đó cũng là điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận BHTN hiện nay. Chính sách không chỉ hướng tới việc giải quyết hậu quả sau khi một người mất việc, mà ngày càng chú trọng hơn đến việc giúp họ tìm được một công việc mới, duy trì kỹ năng và tiếp tục tham gia thị trường lao động.

Vai trò này thể hiện khá rõ tại các Trung tâm Dịch vụ việc làm. Người lao động đến làm thủ tục hưởng BHTN không chỉ được giải quyết chế độ mà còn có thể tiếp cận thông tin tuyển dụng, được tư vấn về nghề nghiệp, kỹ năng và những vị trí việc làm phù hợp với khả năng, kinh nghiệm của mình.

Ở chiều ngược lại, quá trình tư vấn, giới thiệu việc làm cũng giúp cơ quan dịch vụ việc làm nắm bắt rõ hơn tình hình người tìm việc. Trình độ, kỹ năng, ngành nghề, nhu cầu chuyển việc hay học nghề của người lao động được cập nhật cùng với thông tin về nhu cầu tuyển dụng từ doanh nghiệp. Hai nguồn thông tin này gặp nhau sẽ tạo điều kiện để cung và cầu lao động được kết nối sát hơn.

Theo ông Vũ Quang Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, trong quá trình tư vấn, cán bộ Trung tâm chủ động phân loại, định hướng để người lao động xác định rõ nhu cầu của bản thân. Tùy từng trường hợp, người lao động có thể tiếp tục tìm việc hoặc được tư vấn tham gia đào tạo, nâng cao kỹ năng, chuyển đổi sang công việc phù hợp hơn.

Không chỉ tư vấn trực tiếp, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội còn tổ chức các phiên giao dịch việc làm định kỳ, phiên chuyên đề và kết nối giao dịch việc làm trực tuyến với các tỉnh, thành phố. Cách làm này mở rộng phạm vi tiếp cận cho người tìm việc, đồng thời giúp doanh nghiệp có thêm cơ hội tìm kiếm nhân lực ngoài địa bàn quen thuộc.

Mô hình tương tự cũng được triển khai tại nhiều địa phương. Các Trung tâm Dịch vụ việc làm tăng cường thu thập thông tin về cung - cầu lao động, phân tích theo trình độ, kỹ năng, ngành nghề và vị trí việc làm; đồng thời tổ chức tư vấn, giao dịch việc làm và cung cấp thông tin tuyển dụng cho người lao động, doanh nghiệp.

Từ những thông tin được hình thành trong quá trình thực hiện chính sách BHTN, cơ quan quản lý có thêm một nguồn dữ liệu để theo dõi những biến động của thị trường lao động. Đây là cơ sở phục vụ phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực, qua đó góp phần định hướng đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn lao động sát hơn với thực tế.

Hiệu quả không chỉ nằm ở số người được hỗ trợ

Dẫu vậy, để BHTN thực sự phát huy vai trò của một công cụ hỗ trợ thị trường lao động, bài toán thông tin vẫn cần được giải quyết tốt hơn.

Thực tế tại một số nơi cho thấy dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị chưa được chia sẻ, liên thông đầy đủ. Việc cập nhật thông tin ở một số thời điểm còn chậm, khiến khả năng nhận diện sớm biến động của thị trường lao động bị hạn chế.

Hệ quả là người lao động có thể không kịp tiếp cận một cơ hội việc làm phù hợp, trong khi doanh nghiệp lại mất thời gian tìm kiếm nhân lực. Khoảng cách cung - cầu vì vậy vẫn có thể tồn tại, dù cả người tìm việc và bên tuyển dụng đều đang có nhu cầu.

Theo các chuyên gia lao động, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống dữ liệu, cần nâng cao năng lực phân tích, dự báo thị trường lao động; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong cung cấp dịch vụ việc làm và tiếp tục đơn giản hóa thủ tục. Quan trọng hơn, người lao động phải có khả năng tiếp cận thông tin chính thống một cách nhanh chóng và thuận tiện.

Liên quan đến vai trò của BHTN, ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng BHTN (Cục Việc làm, Bộ Nội vụ), cho rằng Luật Việc làm năm 2025 đã tiếp tục hoàn thiện cơ chế để quỹ BHTN phát huy tốt hơn vai trò hỗ trợ khi người lao động và doanh nghiệp gặp rủi ro. Trong những thời điểm khó khăn do suy giảm kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc các tình huống bất khả kháng, quỹ BHTN có thể trở thành điểm tựa giúp giảm bớt tác động đối với người lao động và người sử dụng lao động.

Nhưng hiệu quả của chính sách không nên chỉ được tính bằng số người nhận trợ cấp hay số lượt người được tư vấn. Điều đáng quan tâm hơn là những hỗ trợ đó tạo ra kết quả gì sau cùng: bao nhiêu người tìm được việc làm phù hợp, bao nhiêu người được đào tạo để chuyển đổi nghề và thời gian thất nghiệp có được rút ngắn hay không.

Đây là yêu cầu đặt ra đối với hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm trong thời gian tới. Cùng với nâng cao chất lượng đội ngũ tư vấn viên, các đơn vị cần mở rộng kênh cung cấp thông tin tuyển dụng, tăng cường kết nối với doanh nghiệp, tổ chức linh hoạt các phiên giao dịch việc làm và khai thác hiệu quả công nghệ số.

Một vấn đề khác cũng cần được chú ý là khả năng tiếp cận dịch vụ của những nhóm lao động còn hạn chế về kỹ năng số, nhất là lao động lớn tuổi hoặc những người ở khu vực khó tiếp cận thông tin. Với họ, việc tuyển dụng trực tuyến hay tìm kiếm thông tin việc làm trên môi trường số không phải lúc nào cũng thuận lợi. Nếu thiếu sự hỗ trợ phù hợp, thời gian tìm việc có thể kéo dài hơn.

BHTN vì thế cần được nhìn nhận rộng hơn một cơ chế chi trả khi người lao động mất việc. Khi chính sách được gắn chặt với tư vấn nghề nghiệp, đào tạo, giới thiệu việc làm và kết nối doanh nghiệp, BHTN có thể tham gia chủ động hơn vào quá trình vận hành của thị trường lao động. "Định vị" đúng vai trò này không chỉ giúp người lao động sớm trở lại việc làm mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và tăng tính bền vững của chính sách an sinh.

Đoàn Văn