Ảnh minh họa
Còn kẽ hở cho việc trục lợi
Trước đây, trong giai đoạn đại dịch Covid-19 bùng phát, nền kinh tế bị ảnh hưởng sâu sắc, tác động mạnh mẽ tới thị trường lao động khiến nhiều doanh nghiệp lao đao, phải đưa ra các biện pháp như cắt giảm nhân sự khiến một lượng lớn người lao động lâm vào cảnh mất việc và quyết định đăng kí tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, số người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp tăng bất thường như vậy không chỉ do yếu tố kinh tế mà còn xuất phát từ tình trạng trục lợi. Một số cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng những kẽ hở trong quy định pháp luật dể chiếm đoạt quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Điều 57, Luật Việc làm năm 2013 nêu rõ mức đóng bảo hiểm thất nghiệp gồm 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và tối đa 1% hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Chỉ cần đóng đủ từ 12 đến 36 tháng, người lao động đã có thể hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 3 tháng. Chẳng hạn, người có mức lương 2 triệu đồng/tháng chỉ đóng 24.000 đồng/năm, nhưng khi nghỉ việc, họ có thể nhận tới 3,6 triệu đồng tiền trợ cấp thất nghiệp. Với mức đóng thấp và quyền lợi tương đối cao, nhiều người không thực sự thất nghiệp vẫn cố tình đăng ký nhận trợ cấp, trong khi doanh nghiệp cũng được lợi vì không phải chi trả thêm. Trong khi đó, những người thật sự cần giúp đỡ sau khi thất nghiệp tại các doanh nghiệp phá sản lâm vào tình trạng nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, không được hưởng chính sách do không đủ hồ sơ.
Hậu quả khôn lường
Trục lợi bảo hiểm thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đứng trước nguy cơ mất cân đối, gây ra gánh nặng về phía ngân sách nhà nước. Người lao động khi tham gia BHTN đều kỳ vọng được hỗ trợ công bằng khi mất việc làm. Tuy nhiên, những hành vi gian lận – dù vô tình hay có chủ đích – lại phá vỡ nguyên tắc này. Việc trục lợi không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người đóng bảo hiểm chân chính, mà còn gây ra những hệ lụy đạo đức, tạo tâm lý bất mãn, thậm chí khuyến khích người khác làm theo.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI và lao động nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam, việc trục lợi BHTN càng gây ra tác động tiêu cực, làm xấu hình ảnh môi trường lao động Việt Nam trong mắt cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế.
Giải pháp cứng rắn ngăn chặn trục lợi bảo hiểm thất nghiệp
Theo Điều 214 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ hành vi gian lận tiền bảo hiểm thất nghiệp sẽ bị truy tố hình sự với mức án cao nhất là 10 năm tù. Tuy nhiên, hiện nay chủ yếu vẫn là xử phạt hành chính. Điều này cũng khiến các hành vi lạm dụng, trục lợi từ chính sách bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn tồn tại.
Bên cạnh đó, để ngăn chặn tình trạng này một cách triệt để và kịp thời, các cơ quan chức năng cần có những thay đổi, bổ sung một số quy phạm pháp luật.
Cần sửa đổi chính sách chi trả trợ cấp thất nghiệp. Việc trả trợ cấp thất nghiệp theo tháng đang tồn tại kẽ hở pháp lý khiến người lao động vừa đóng bảo hiểm lại vừa nhận trợ cấp trong tháng cuối cùng nếu đi làm trở lại sớm. Cần sửa khoản 4, Điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP để quy định rõ thời điểm chấm dứt hưởng trợ cấp, nhằm đảm bảo minh bạch và tiệm cận với chuẩn quốc tế.
Phân biệt lỗi mất việc giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Cần có quy định phân loại nguyên nhân mất việc để áp dụng các mức trợ cấp khác nhau. Nếu lỗi do người lao động, mức trợ cấp chỉ nên bằng 2/3 đến 3/4 so với mức trợ cấp do lỗi của doanh nghiệp. Điều này giúp giảm tình trạng nghỉ việc để hưởng trợ cấp không chính đáng.
Thứ ba, sửa đổi cách tính thời gian hưởng trợ cấp. Thay vì quy định cứng 12 tháng đóng bảo hiểm thì được 3 tháng trợ cấp, nên tính số ngày hưởng theo công thức tỷ lệ thuận với số tháng đóng, nhằm đảm bảo công bằng và khuyến khích người lao động tham gia bảo hiểm lâu dài. Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ trợ cấp thất nghiệp.
Hiện nay, thời gian đăng ký và giải quyết kéo dài gần 4 tháng, trong khi người lao động có thể đã tìm được việc làm mới. Nên rút quy trình xuống còn 15 ngày để hạn chế hành vi trục lợi.
Khương Thị Thu Hoài