“Bộ tứ trụ cột” – quyết sách đúng, trúng, kịp thời để Việt Nam không bỏ lỡ cơ hội “giàu trước khi già”

Thứ ba, 27/10/2026 - 08:10

Tóm tắt: Bài viết khẳng định “Bộ tứ trụ cột” là quyết sách chiến lược đúng đắn, khoa học và kịp thời của Đảng nhằm giúp Việt Nam tận dụng thời cơ phát triển, vượt qua nguy cơ “chưa giàu đã già” và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trên cơ sở phân tích các trở lực về năng suất, thể chế, nguồn lực xã hội và không gian phát triển, bài viết làm rõ tính khoa học của bốn nghị quyết về khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế, xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân. Qua đó bài viết phản bác các quan điểm hoài nghi, phiến diện; khẳng định niềm tin vào năng lực lãnh đạo, đổi mới và kiến tạo phát triển trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Bộ tứ trụ cột, giàu trước khi già, thể chế phát triển, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặt vấn đề

Việt Nam đang đứng trước thời điểm phát triển mang tính bước ngoặt. Hai mục tiêu 100 năm mà chúng ta đang hướng đến là trở thành "nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập vượt qua mức thu nhập trung bình" vào năm 2030 và "nước phát triển, có thu nhập cao" vào năm 2045. Đây không chỉ là khát vọng chính đáng của dân tộc, mà còn mệnh lệnh phát triển từ thực tiễn đất nước. Đồng thời cũng chính là "phép thử" đối với năng lực lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện của cả hệ thống chính trị. Vấn đề đặt ra là Việt Nam có thể đạt được mục tiêu đó trong bối cảnh dân số già hóa diễn ra ngày càng nhanh hay không? Hay nói một cách trực diện Việt Nam có thể "giàu trước khi già" hay không?

Để có đáp án cho câu hỏi trên, chúng ta phải thực hiện một cuộc chạy đua nước rút. Điều đáng lưu ý là cuộc chạy nước rút ấy diễn ra trong bối cảnh giai đoạn dân số vàng đang dần khép lại, già hóa dân số tăng nhanh, lợi thế lao động giá rẻ thu hẹp, năng suất lao động và năng lực đổi mới sáng tạo còn là điểm nghẽn. Việt Nam không thể đi tới thịnh vượng bằng tư duy cũ, động lực cũ và tốc độ cũ. Muốn giàu trước khi già, đất nước phải chuyển sang quỹ đạo phát triển mới, dựa trên năng suất, tri thức, thể chế, doanh nghiệp và hội nhập quốc tế.

1. Giàu trước khi già: Thời cơ chiến lược không thể bỏ lỡ

Việt Nam làm gì để "giàu trước khi già"? Câu hỏi ấy không phải để hoài nghi mà để thúc giục hành động.

Giàu

Theo phân loại thu nhập của Ngân hàng Thế giới, nhóm thu nhập cao được xác định theo GNI bình quân đầu người và ngưỡng phân loại được điều chỉnh hằng năm. Năm 2024, GNI bình quân đầu người của Việt Nam tính theo phương pháp Atlas mới đạt khoảng 4.490 USD. Nếu lấy ngưỡng nước thu nhập cao mà WB đưa ra là khoảng trên 14.000USD/người/năm làm mốc tham chiếu thì Việt Nam chỉ còn 19 năm nữa để trở thành nước "giàu" với khoảng cách thu nhập gần 9.500USD/năm. Như vậy thu nhập bình quân đầu người phải tăng thêm bình quân khoảng 500 USD mỗi năm và phải tăng hơn ba lần so với hiện nay. Đó là con số đủ để bất kỳ người Việt có trách nhiệm nào cũng không thể bình thản.

Già

Thuật ngữ "già" để chỉ một trong bốn giai đoạn phát triển dân số của một quốc gia. Khi đó, dân số trong độ tuổi lao động giảm, tỉ lệ người trên 65 tuổi tăng cao, số người sống phụ thuộc ngày càng tăng, gánh nặng phúc lợi xã hội đè nặng lên vai những người trong độ tuổi lao động[1]. Kịch bản phát triển tốt nhất của một quốc gia là phát triển trước giai đoạn "già". Hay nói cách khác "giàu trước khi già"

"Giàu trước khi già" – tại sao là thời cơ không thể bỏ lỡ?

Trước hết cần khẳng định luận điểm "giàu trước khi già" không phải là cách nói cường điệu, mà là yêu cầu phát triển có tính sống còn. Một nghiên cứu[2] cho thấy giai đoạn dân số vàng ở mỗi quốc gia kéo dài khoảng 50 năm, cho phép sai số khoảng 5 năm. Đối với Việt Nam, thời điểm dân số vàng bắt đầu vào khoảng 1970-1975 và kết thúc vào khoảng 2020-2025. Thời điểm kết thúc giai đoạn dân số vàng có thể muộn hơn vài năm (có thể 2030-2035), nhưng quy luật này là tất yếu và không thể thay đổi. Như vậy, về mặt lý thuyết, năm 2025, 2030 hoặc 2035 là thời cơ chiến lược tốt nhất trong những năm về sau mà Việt Nam có thể tận dụng trước khi kết thúc giai đoạn dân số vàng, chuyển sang giai đoạn dân số già.

Thực tiễn cũng cho thấy, Việt Nam đang ở thời điểm phải hành động quyết liệt. Theo Cục Thống kê, dân số trung bình của Việt Nam năm 2025 đã đạt 101,4 triệu người nhưng cơ cấu dân số đang dịch chuyển theo hướng tăng tỷ lệ người cao tuổi và giảm tỷ lệ dân số trẻ[3]. Việt Nam đang đứng trước một thách thức to lớn đó là nguy cơ chưa giàu đã già.

Luận chứng kinh tế cũng chỉ rõ từ một nền kinh tế thu nhập thấp sau chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên nhóm thu nhập trung bình nhờ đường lối đổi mới đúng đắn, ổn định chính trị, mở cửa hội nhập, phát huy nguồn lực lao động và thu hút đầu tư. Nhưng những động lực cũ đang dần tới hạn. Tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ, gia công lắp ráp và khai thác tài nguyên không thể bảo đảm cho Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao. Muốn vượt lên, Việt Nam phải tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, làm chủ công nghệ, nâng chất lượng thể chế, hình thành đội ngũ doanh nghiệp mạnh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì vậy, mục tiêu 2045 không phải là khẩu hiệu, càng không phải lời hứa dễ dãi. Đó là mục tiêu chính trị - kinh tế được đặt ra từ yêu cầu khách quan của dân tộc, không thể chậm trễ. Không đặt mục tiêu cao thì không tạo được áp lực cải cách. Không cải cách mạnh thì không có tăng trưởng đột phá. Không tăng trưởng đột phá thì rất khó giàu trước khi già. Đây chính là điểm xuất phát để nhìn nhận đúng giá trị của "Bộ tứ trụ cột".

2. "Bộ tứ trụ cột" đúng đắn vì nhận diện trúng những trở lực phát triển

"Bộ tứ trụ cột" thể hiện tầm nhìn đúng đắn của Đảng vì đã nhận diện trúng những trở lực lớn nhất của phát triển Việt Nam hiện nay. Trở lực năng suất phải được bứt phá bằng khoa học công nghệ. Trở lực về thể chế phải được tháo gỡ bằng đổi mới pháp luật. Trở lực về huy động nguồn lực xã hội phải được khơi thông bằng phát triển kinh tế tư nhân. Trở lực về không gian phát triển phải được được mở rộng bằng hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng và có bản lĩnh.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là "đột phá quan trọng hàng đầu", là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại. Công nghệ là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quốc gia nào chậm về công nghệ sẽ chậm về năng suất, năng suất chậm sẽ dẫn đến chậm về thu nhập, chậm về thu nhập sẽ tụt hậu trong cạnh tranh phát triển. Vì vậy, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt vào vị trí đột phá chính là đặt tri thức, dữ liệu, công nghệ và trí tuệ Việt Nam vào trung tâm của mô hình tăng trưởng mới.

Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật là sự lựa chọn đúng điểm nghẽn thể chế. Qua các kỳ đại hội, thể chế vẫn được xem là một trong những điểm nghẽn cần tháo gỡ để Việt Nam bứt phá. Không có thể chế thông suốt, nguồn lực xã hội sẽ bị phân tán, ách tắc hoặc sử dụng kém hiệu quả. Pháp luật không minh bạch, doanh nghiệp không dám đầu tư dài hạn. Không có thi hành pháp luật nghiêm minh, chủ trương đúng cũng khó chuyển thành kết quả thực tế. Vì vậy, đổi mới pháp luật không phải là công việc kỹ thuật của riêng ngành pháp lý, mà là đột phá mở đường cho phát triển.

Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là sự lựa chọn đúng điểm nghẽn huy động nguồn lực xã hội. Sau gần 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng, với hơn 940 nghìn doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng một nửa GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng phần lớn lực lượng lao động. Nghị quyết 68 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân tăng trưởng bình quân khoảng 10-12%/năm và đóng góp khoảng 55-58% GDP.Nếu nguồn lực này không được khơi thông, bảo vệ và phát triển, đất nước sẽ như một cỗ máy không có động cơ, nền kinh tế không có nội lực thúc đẩy tăng trưởng.

Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới là sự lựa chọn đúng điểm nghẽn không gian phát triển. Một nền kinh tế quy mô trung bình, độ mở lớn như Việt Nam không thể giàu mạnh nếu tự thu hẹp mình trong biên giới quốc gia. Hội nhập quốc tế mở ra thị trường, vốn, công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và vị thế mới. Vấn đề không phải là có hội nhập hay không, mà là hội nhập với bản lĩnh nào, năng lực nào và mục tiêu nào. Đường lối hội nhập của Việt Nam là chủ động, tích cực, giữ vững độc lập tự chủ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết.

Có thể hình dung "Bộ tứ trụ cột" như một cấu trúc phát triển đồng bộ:

Trụ cột chiến lược

Điểm nghẽn cần tháo gỡ

Động lực phát triển được mở ra

Nghị quyết 57-NQ/TW

Năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo còn hạn chế

Năng suất mới, lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế số

Nghị quyết 66-NQ/TW

Thể chế, pháp luật còn chồng chéo; thực thi còn yếu

Môi trường phát triển minh bạch, ổn định, thông suốt

Nghị quyết 68-NQ/TW

Nguồn lực tư nhân chưa được giải phóng đầy đủ

Sức bật doanh nghiệp, việc làm, đổi mới sáng tạo, nguồn thu

Nghị quyết 59-NQ/TW

Không gian phát triển trong nước có giới hạn

Thị trường, vốn, công nghệ, chuỗi giá trị, vị thế quốc tế

Một chỉnh thể - bốn trụ cột - một mục tiêu: Việt Nam phát triển, thu nhập cao, tự chủ và bền vững.

Bốn trụ cột ấy liên kết với nhau theo logic phát triển hiện đại thể chế tạo khuôn khổ, khoa học công nghệ tạo nền tảng năng suất, kinh tế tư nhân tạo sức bật nội sinh, hội nhập quốc tế tạo không gian phát triển. Tách rời từng nghị quyết sẽ không thấy hết tầm nhìn chiến lược của Đảng; đặt chúng trong một chỉnh thể sẽ thấy rõ đây là cấu trúc phát triển đồng bộ để đất nước bứt phá.

3. "Bộ tứ trụ cột" khoa học vì phù hợp với quy luật phát triển hiện đại

Tính khoa học của "Bộ tứ trụ cột" không nằm ở sự khẳng định chủ quan, mà được chứng minh trên ba tầng cơ sở: cơ sở lý luận Mác-Lênin về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; cơ sở kinh tế học hiện đại về tăng trưởng, thể chế và hội nhập; cơ sở thực tiễn gần 40 năm đổi mới của Việt Nam.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định trong sự phát triển xã hội, quan hệ sản xuất phải được hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong kỷ nguyên số, lực lượng sản xuất hiện đại không chỉ gồm lao động, vốn và tài nguyên, mà còn gồm tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực tổ chức. Nghị quyết 57 thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới, Nghị quyết 66 góp phần hoàn thiện quan hệ pháp lý - thể chế, Nghị quyết 68 giải phóng nguồn lực xã hội, Nghị quyết 59 kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Tính khoa học được xem xét ở góc nhìn của lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại. Mô hình Solow cho thấy tăng trưởng dài hạn không thể chỉ dựa vào tích lũy vốn và lao động, mà cần tiến bộ công nghệ. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh tiếp tục khẳng định vai trò của vốn nhân lực, tri thức, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu phát triển. Vì vậy, Nghị quyết 57 không phải là lựa chọn phong trào, mà là lựa chọn đúng quy luật: muốn thu nhập cao phải có năng suất cao; muốn năng suất cao phải có công nghệ, con người và đổi mới sáng tạo.

Tính khoa học cũng thể hiện ở vai trò của thể chế. Nhiều nghiên cứu về kinh tế phát triển khẳng định chất lượng thể chế quyết định khả năng huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Một quốc gia có thể có lao động, vốn và thị trường, nhưng nếu luật pháp thiếu minh bạch, chi phí tuân thủ cao, thủ tục chồng chéo, quyền tài sản không được bảo đảm đầy đủ thì nguồn lực sẽ không chảy vào sản xuất dài hạn. Nghị quyết 66 vì vậy có ý nghĩa như một cuộc khai thông "hạ tầng mềm" của phát triển.

Tính khoa học tiếp tục thể hiện ở việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân không đối lập với định hướng xã hội chủ nghĩa nếu được phát triển trong khuôn khổ pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngược lại, không giải phóng sức sản xuất của khu vực tư nhân mới là lãng phí nguồn lực xã hội. Đây là bước phát triển nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa kiên định nguyên tắc, vừa linh hoạt về phương thức phát triển.

Tính khoa học cuối cùng nằm ở tư duy hội nhập. Lý thuyết thương mại quốc tế từ lợi thế so sánh đến chuỗi giá trị toàn cầu đều cho thấy quốc gia muốn nâng cấp phát triển phải tham gia vào mạng lưới sản xuất, thương mại, đầu tư và tri thức quốc tế. Nhưng hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Hội nhập khoa học là hội nhập có chọn lọc, có năng lực tự chủ, có khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng vị thế đất nước. Đó chính là tinh thần của Nghị quyết 59.

4. "Bộ tứ trụ cột" kịp thời vì thời cơ phát triển không chờ đợi

Tính kịp thời của "Bộ tứ trụ cột" thể hiện ở chỗ các nghị quyết được ban hành đúng vào thời điểm Việt Nam phải chuyển mô hình tăng trưởng. Nếu trước đây tăng trưởng có thể dựa nhiều vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác lao động giá rẻ và thu hút FDI thâm dụng lao động, thì hiện nay các lợi thế đó đang suy giảm nhanh. Cạnh tranh quốc tế không còn chỉ là cạnh tranh hàng hóa giá rẻ, mà là cạnh tranh công nghệ, nhân lực, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu, chuỗi cung ứng và chất lượng thể chế.

Tính kịp thời còn thể hiện ở áp lực dân số. Khi dân số già đi, mỗi năm chậm cải cách là một năm mất lợi thế. Khi lực lượng lao động không còn tăng nhanh, tăng trưởng phải đến từ năng suất. Khi ngân sách phải dành nhiều hơn cho an sinh, nguồn lực cho đầu tư phát triển sẽ chịu áp lực lớn hơn. Vì vậy, phát triển khoa học công nghệ, hoàn thiện thể chế, khơi thông kinh tế tư nhân và mở rộng hội nhập không phải là việc "nên làm", mà là việc "phải làm ngay".

Tính kịp thời cũng nằm ở bối cảnh thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển; kinh tế xanh và kinh tế số trở thành tiêu chuẩn mới; trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, năng lượng sạch đang định hình lại năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu Việt Nam không tham gia sớm và chủ động, chúng ta sẽ chỉ đứng ở tầng thấp của chuỗi giá trị. Nếu tham gia đúng lúc, Việt Nam có thể tận dụng chuyển dịch đầu tư, nâng cấp công nghệ, phát triển doanh nghiệp dân tộc và tăng vị thế quốc tế.

Đúng thời điểm là sức mạnh của quyết sách. Một chủ trương đúng nhưng đến muộn có thể làm lỡ thời cơ. Một quyết sách kịp thời, nếu được tổ chức thực hiện quyết liệt, có thể biến áp lực thành động lực, biến thách thức thành thời cơ, biến khát vọng thành kết quả phát triển. Từ góc nhìn đó, "Bộ tứ trụ cột" là quyết sách kịp thời vì không chờ khó khăn chín muồi mới hành động. Đảng đã nhận diện sớm nguy cơ, xác lập sớm đột phá, chỉ rõ sớm phương hướng hành động.

5. Phản bác những luận điệu hoài nghi, phiến diện về "Bộ tứ trụ cột"

Trong đấu tranh tư tưởng hiện nay, nguy hiểm không chỉ nằm ở những luận điệu phủ định trắng trợn, mà còn ở những cách nói nửa vời, khoác áo "lo lắng", "phản biện", "cảnh báo", nhưng thực chất gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin vào mục tiêu phát triển và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Có quan điểm cho rằng mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 là quá tham vọng, thậm chí chỉ là khẩu hiệu. Cách nhìn này bỏ qua thực tế rằng mục tiêu lớn luôn là điều kiện để tạo áp lực cải cách lớn. Không quốc gia nào trở nên thịnh vượng bằng tâm lý tự bằng lòng với mức trung bình. Vấn đề không phải là hạ thấp mục tiêu cho "an toàn", mà là xây dựng được con đường, nguồn lực và kỷ luật thực thi để đạt mục tiêu. "Bộ tứ trụ cột" chính là sự cụ thể hóa con đường ấy.

Cũng có quan điểm cho rằng phát triển kinh tế tư nhân là xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự nhầm lẫn giữa mục tiêu phát triển và hình thức tổ chức kinh tế. Định hướng xã hội chủ nghĩa không đồng nghĩa với triệt tiêu động lực tư nhân, mà là bảo đảm mọi thành phần kinh tế phát triển theo pháp luật, cùng đóng góp vào mục tiêu chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Phát triển kinh tế tư nhân là để làm giàu cho đất nước, tăng việc làm, tăng nguồn thu, tăng sức cạnh tranh quốc gia; không phải để phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước hay thay đổi bản chất chế độ.

Hội nhập quốc tế cũng được bàn đến rằng sẽ dẫn tới lệ thuộc. Lập luận này chỉ nhìn thấy rủi ro mà không thấy năng lực chủ động. Một quốc gia đóng cửa không thể tự chủ bền vững; trái lại, tự chủ trong thời đại ngày nay phải được xây dựng bằng năng lực cạnh tranh, năng lực tham gia chuỗi giá trị, năng lực lựa chọn đối tác và năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Hội nhập của Việt Nam là hội nhập trên nền tảng độc lập, tự chủ; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; không nghiêng lệch, không đánh đổi chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Có quan điểm cho rằng khoa học công nghệ, chuyển đổi số là mục tiêu xa vời, không phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây là cách nhìn tự ti, không phù hợp với thực tiễn đổi mới. Việt Nam đã từng đi sau nhưng có thể đi nhanh trong nhiều lĩnh vực nếu có quyết tâm chính trị, cơ chế phù hợp và nguồn nhân lực được chuẩn bị. Điều nguy hiểm nhất không phải là đặt mục tiêu cao về công nghệ, mà là chấp nhận đứng ngoài cuộc đua công nghệ. Trong kỷ nguyên số, chậm chuyển đổi là tự thu hẹp tương lai.

Những luận điệu hoài nghi trên, dù biểu hiện dưới dạng "lo lắng", "phản biện" hay "cảnh báo", nếu thiếu cơ sở khoa học và bị sử dụng để làm suy giảm niềm tin vào đường lối đổi mới thì cần được đấu tranh thẳng thắn. Phản bác không có nghĩa là phủ nhận khó khăn. Trái lại, chính vì nhìn rõ khó khăn nên càng phải khẳng định giá trị của các quyết sách đúng, khoa học, kịp thời và càng phải quyết liệt tổ chức thực hiện.

6. Từ quyết sách đúng đến hành động đúng

Một chủ trương đúng chỉ thật sự có sức sống khi đi vào cuộc sống. Vì vậy, sau khi khẳng định tính đúng đắn, khoa học và kịp thời của "Bộ tứ trụ cột", vấn đề quyết định là tổ chức thực hiện. Trong lịch sử đổi mới, nhiều chủ trương đúng đã tạo ra thành tựu lớn khi được triển khai quyết liệt, ngược lại, chủ trương đúng cũng có thể chậm phát huy hiệu quả nếu khâu thực thi thiếu đồng bộ, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu dũng khí đổi mới.

Trước hết, cần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, "Bộ tứ trụ cột" không phải là nhiệm vụ riêng của một bộ, ngành, địa phương hay khu vực kinh tế nào, mà là nhiệm vụ chung của quốc gia. Khoa học công nghệ cần thể chế mở đường, thể chế cần doanh nghiệp và người dân kiểm nghiệm, kinh tế tư nhân cần hội nhập để lớn lên, hội nhập cần năng lực công nghệ và thể chế để không rơi vào thế bị động. Bốn trụ cột chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ.

Cùng với đó, cần chuyển từ tư duy "ban hành chính sách" sang tư duy "tạo kết quả phát triển". Cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ trực tiếp thực thi chính sách ở cơ sở, phải xem việc tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, bảo vệ môi trường kinh doanh là trách nhiệm chính trị cụ thể. Niềm tin vào đường lối của Đảng không dừng ở lời nói, mà phải thể hiện bằng kỷ luật công vụ, tinh thần phục vụ và kết quả thực tế.

Cuối cùng, cần phát huy vai trò của công tác tư tưởng, lý luận trong tạo đồng thuận xã hội. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là đấu tranh trên không gian mạng hay phản bác những luận điệu sai trái, mà còn là làm cho cái đúng trở nên sáng rõ, thuyết phục và có sức lan tỏa. Khi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu vì sao "Bộ tứ trụ cột" đúng, đúng ở đâu, đúng bằng cơ sở nào, và phải hành động thế nào, thì niềm tin chính trị sẽ chuyển hóa thành sức mạnh phát triển.

Kết luận

Việt Nam chỉ còn 19 năm để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đó là khoảng thời gian không dài nếu nhìn từ yêu cầu tăng thu nhập, nâng năng suất, làm chủ công nghệ, hoàn thiện thể chế, phát triển doanh nghiệp và thích ứng với già hóa dân số. Vì vậy, "giàu trước khi già" không phải là khẩu hiệu, mà là mệnh lệnh phát triển từ thực tiễn đất nước.

Trong bối cảnh đó, "Bộ tứ trụ cột" là quyết sách đúng vì nhận diện trúng điểm nghẽn; khoa học vì phù hợp với quy luật phát triển hiện đại và cơ sở lý luận của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; kịp thời vì thời cơ dân số, công nghệ và hội nhập không chờ đợi. Bốn trụ cột - khoa học công nghệ, thể chế pháp luật, kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế - tạo thành một chỉnh thể chiến lược nhằm mở khóa các động lực tăng trưởng mới, đưa đất nước bước vào quỹ đạo phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và đúng định hướng.

Kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay không chỉ là kiên định những nguyên lý, mục tiêu và con đường đã lựa chọn, mà còn là bảo vệ năng lực đổi mới, năng lực phát triển lý luận và năng lực kiến tạo tương lai của Đảng. "Bộ tứ trụ cột" chính là một minh chứng sinh động cho sự kiên định mà không giáo điều, đổi mới mà không chệch hướng, hội nhập mà không hòa tan, phát triển kinh tế thị trường mà vẫn giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Với quyết tâm chính trị cao, tổ chức thực hiện quyết liệt và niềm tin được soi sáng bằng cơ sở khoa học, Việt Nam phải và có thể giàu trước khi già.

Nguyễn Đoàn Đoan Trang

Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
  2. Bộ chính trị (2025). Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
  3. Bộ chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
  4. Bộ chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới
  5. Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
  6. Tô Lâm (17/3/2023): "Phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng" https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-119250318000126845.htm
  7. Trần Văn Thọ (2016), Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, Nxb. Tri thức.
  8. Acemoglu, D., & Robinson, J. (2012). Why nations fail: The origins of power, prosperity, and poverty. Crown Business.
  9. Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65–94.
  10. World Bank, 2024. World development indicators. Retrieved from

https://data.worldbank.org/indicator/NY.GNP.PCAP.CD?view=map

  1. https://nhandan.vn/xay-dung-bo-tu-tru-cot-menh-lenh-tu-tuong-lai-cua-dan-toc-post886472.html
  2. Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development: An inquiry into profits, capital, credit, interest, and the business cycle (R. Opie, Trans.). Harvard University Press. (Original work published 1911)
  3. Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. Harper & Brothers.
  1. Xem Trần Văn Thọ (2016). Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, NXb Tri thức ↑

  2. Xem Trần Văn Thọ (2016). Cú sốc thời gian và kinh tế Việt Nam, NXb. Tri thức ↑

  3. Theo Kết quả sơ bộ Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2023:Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0-14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi từ 15- 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023 ↑