Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng: Từ thực tiễn 40 năm đổi mới đến yêu cầu trong bối cảnh hiện nay

Thứ tư, 16/09/2026 - 11:30

Nhìn lại 40 năm xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng nhằm chắt lọc những bài học, nhận diện những vấn đề đặt ra và xác định yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng. Từ đó, thực tiễn Đà Nẵng không chỉ cho thấy sự vận động của phương thức lãnh đạo của Đảng ở một địa phương, mà còn góp phần hoàn thiện lý luận về Đảng cầm quyền trong giai đoạn mới.

Năm 1986 mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Cùng với tiến trình đó, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng từng bước đổi mới, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và tạo nền tảng chính trị cho sự phát triển của địa phương.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của hội nhập, chuyển đổi số, xây dựng nền quản trị hiện đại và không gian phát triển mới của thành phố Đà Nẵng, công tác xây dựng Đảng đứng trước những yêu cầu cao hơn. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: "Chú trọng thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ" [1].

Nhìn lại 40 năm xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng nhằm chắt lọc những bài học, nhận diện những vấn đề đặt ra và xác định yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng. Từ đó, thực tiễn Đà Nẵng không chỉ cho thấy sự vận động của phương thức lãnh đạo của Đảng ở một địa phương, mà còn góp phần hoàn thiện lý luận về Đảng cầm quyền trong giai đoạn mới.

KỲ 1: ĐỔI MỚI TƯ DUY LÃNH ĐẠO - MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN

Từ yêu cầu thực tiễn qua từng thời kỳ, công tác xây dựng Đảng ở Đà Nẵng từng bước đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo, gắn với những biến đổi về tổ chức, không gian phát triển và nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Giai đoạn 1986-1996: công tác xây dựng Đảng trong những năm đầu đổi mới

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Thực tiễn 10 năm sau giải phóng cho thấy, một số chủ trương, chính sách chưa sát thực tiễn, hiệu quả lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện còn hạn chế [2]. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng.

Quán triệt tinh thần Đại hội VI, Đảng bộ tỉnh nhìn thẳng vào những hạn chế trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện; tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố đoàn kết, thống nhất, khắc phục quan liêu, giáo điều, bảo thủ, nói không đi đôi với làm [3]. Một trong những biểu hiện cụ thể của tinh thần tự nhìn nhận, điều chỉnh đó là Nghị quyết số 11/NQ-TU, ngày 16-01-1990 của Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng về "tình hình năm 1989 và phương hướng nhiệm vụ năm 1990", thẳng thắn chỉ ra "hạn chế trong lãnh đạo, tổ chức và kiểm tra", đồng thời yêu cầu "đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, bảo đảm mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ".

Công tác tổ chức và cán bộ được tăng cường thông qua củng cố tổ chức cơ sở đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đẩy mạnh kiểm tra, đổi mới phong cách, lề lối làm việc; đồng thời khắc phục những hạn chế trong quy hoạch, đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ, chú trọng trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ [4].

Trong những năm đầu thập niên 1990, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được đẩy mạnh; Đảng bộ tỉnh tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, quán triệt và cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương. Việc triển khai Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII về "Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng" góp phần củng cố nhận thức, tăng cường sự thống nhất trong Đảng và niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân vào đường lối đổi mới [5].

Trên lĩnh vực tổ chức, cán bộ, công tác phát triển đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng và quy hoạch cán bộ được quan tâm; số đảng viên kết nạp tăng từ 627 người năm 1991 lên 969 người năm 1993; tuy nhiên, chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, 23,5% cán bộ được đánh giá còn hạn chế [6].

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng: Từ thực tiễn 40 năm đổi mới đến yêu cầu trong bối cảnh hiện nay - Ảnh 1.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ XVII, từ ngày 24 đến 27-4-1996 - kỳ đại hội cuối cùng trước khi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được chia tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Nguồn: Ảnh lưu tại Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đà Nẵng

Giai đoạn 1986-1996 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, với những chuyển biến về tư duy, tổ chức, cán bộ và phương thức lãnh đạo. Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và chất lượng đội ngũ vẫn còn hạn chế [7], đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng khi địa phương bước vào giai đoạn phát triển mới từ năm 1997.

Giai đoạn 1997 đến trước ngày 01-7-2025: xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện tổ chức và phát triển mới

Từ năm 1997, sau khi chia tách tỉnh, Quảng Nam và Đà Nẵng bước vào những chặng đường phát triển với điều kiện, yêu cầu khác nhau. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vì thế ngày càng gắn với năng lực hoạch định chủ trương, tổ chức thực hiện và huy động nguồn lực cho phát triển.

Đối với Quảng Nam, những ngày đầu tái lập tỉnh, xuất phát điểm kinh tế - xã hội rất thấp, thuộc nhóm những địa phương nghèo nhất cả nước; kinh tế thuần nông, thu ngân sách chỉ khoảng 120 tỷ đồng, trong khi nhu cầu chi trên 1.000 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo và gia đình chính sách cao. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ tỉnh từng bước xác định hướng đi, lựa chọn lĩnh vực đột phá và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn. Việc hình thành Khu kinh tế mở Chu Lai, cùng những nỗ lực phát triển hạ tầng, du lịch, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới cho thấy sự chủ động trong đề xuất chủ trương và huy động nguồn lực [8].

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển, công tác tổ chức và cán bộ tiếp tục được chú trọng. Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Quảng Nam thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ, giảm 2.261 biên chế trong toàn hệ thống chính trị. Qua tổng kết 15 năm thực hiện Điều lệ Đảng (2011-2025), phương thức lãnh đạo của các cấp ủy có những chuyển biến theo hướng đổi mới, sâu sát cơ sở hơn; chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên [9].

Thực tiễn lãnh đạo và tổ chức thực hiện tiếp tục được thử thách qua đại dịch COVID-19. Năm 2020, tăng trưởng kinh tế Quảng Nam giảm 5,5%, nhưng năm 2021 GRDP tăng 5,04% và sáu tháng đầu năm 2022 tăng 12,8%. Từ năm 2017, tỉnh đã tự cân đối ngân sách và có đóng góp về Trung ương; năm 2021, quy mô kinh tế vượt 100 nghìn tỷ đồng, đứng thứ hai trong 5 tỉnh, thành phố vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung. Những kết quả đó cho thấy năng lực cụ thể hóa chủ trương, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn của Đảng bộ tỉnh [10].

Đồng chí Nguyễn Văn Sỹ, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam:

 

"Trải qua 25 năm từ ngày tái lập tỉnh (1997-2022), Đảng bộ Quảng Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành cả về tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm sự ổn định và phát triển của tỉnh. Vì vậy, công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ tiến hành thường xuyên, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ, với nhiều biện pháp, làm cho Đảng bộ ngày càng vững mạnh, trưởng thành" (Theo Quảng Nam 25 năm tái lập, đổi mới và phát triển, 1997-2022, tr. 51).

Trong khi đó, việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đưa Đà Nẵng vào giai đoạn phát triển mới, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của Đảng bộ thành phố. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng, phát triển đô thị; phương thức lãnh đạo từng bước đổi mới theo hướng sát cơ sở, tăng cường đối thoại với Nhân dân, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và gắn với kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện [11].

Trong giai đoạn này, chỉnh trang đô thị, giải phóng mặt bằng và tái định cư trở thành những lĩnh vực đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của Đảng bộ thành phố. Thực tiễn cho thấy, năng lực lãnh đạo không chỉ thể hiện ở việc đề ra chủ trương mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, hài hòa lợi ích, bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và tăng cường đối thoại với nhân dân.

Cùng với quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại Đà Nẵng cũng cho thấy yêu cầu ngày càng rõ hơn về việc bảo đảm "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Nguyên tắc này được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều lệ Đảng, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương thức hoạt động của Đảng cầm quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Theo đó, mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải xác định đúng vị trí, chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của mình - "đúng vai, thuộc bài" - trong quá trình thực hiện vai trò lãnh đạo và tham gia vận hành bộ máy nhà nước. Việc xử lý kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo, quản lý tại Đà Nẵng, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, cho thấy yêu cầu giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đồng thời khẳng định việc thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền phải gắn với trách nhiệm, thẩm quyền và sự tuân thủ pháp luật.

Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được Đảng bộ thành phố Đà Nẵng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, kiện toàn tổ chức, cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát. Yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo được Đảng bộ thành phố xác định và từng bước cụ thể hóa qua các nhiệm kỳ, trong đó Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 04-01-2017 của Thành ủy về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và sắp xếp tổ chức, bộ máy là một bước cụ thể hóa quan trọng.

Năng lực tổ chức thực hiện ngày càng được chú trọng, từ xác định nhiệm vụ trọng tâm, thành lập các ban chỉ đạo, tổ công tác đến nắm tình hình cơ sở, đối thoại với nhân dân và theo dõi kết quả. 

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng: Từ thực tiễn 40 năm đổi mới đến yêu cầu trong bối cảnh hiện nay - Ảnh 2.

Lễ Khánh thành cầu quay Sông Hàn, ngày 29-3-2000, công trình đánh dấu sự chuyển mình của thành phố Đà Nẵng, biểu tượng cho khát vọng vươn lên của người dân thành phố. Nguồn: Bảo tàng Đà Nẵng

Thực tiễn ứng phó với đại dịch COVID-19 là một minh chứng. Năm 2020, GRDP Đà Nẵng giảm 9,26%, trong đó khu vực dịch vụ giảm 7,97%. Trong bối cảnh đó, Thành ủy lãnh đạo phòng, chống dịch và phục hồi kinh tế; GRDP năm 2021 tăng 0,18% và chín tháng đầu năm 2022 tăng 16,76%, đưa Đà Nẵng vào nhóm địa phương có tốc độ phục hồi khá nhanh [12].

Có thể thấy, giai đoạn 1997-2025, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Quảng Nam và Đà Nẵng ngày càng gắn chặt với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Qua đó cho thấy xây dựng Đảng không chỉ hướng vào củng cố nội bộ mà ngày càng gắn với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của địa phương.

Từ ngày 01-7-2025 đến nay: xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong không gian phát triển mới

Từ ngày 01-7-2025, thành phố Đà Nẵng đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước yêu cầu mới về quy mô tổ chức, phạm vi lãnh đạo và phương thức vận hành. Đảng bộ thành phố có 97 đảng bộ trực thuộc, 840 tổ chức cơ sở đảng, 3.559 chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường và 138.965 đảng viên [13]. Trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thành phố tập trung kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ, hoàn thiện cơ chế phối hợp, gắn phân cấp, phân quyền với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm; đồng thời nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, quản lý, sàng lọc đảng viên. Sáu tháng đầu năm 2026, đã rà soát đưa ra khỏi Đảng 185 trường hợp [14].

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng: Từ thực tiễn 40 năm đổi mới đến yêu cầu trong bối cảnh hiện nay - Ảnh 3.

Một góc đô thị Đà Nẵng nhìn từ trên cao - diện mạo thành phố trong quá trình đổi mới và phát triển. Ảnh: Nguyễn Trình

Công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được đặt trong yêu cầu kiện toàn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Việc rà soát, kiện toàn cấp ủy, sắp xếp, bố trí cán bộ được gắn với yêu cầu của tổ chức bộ máy và nhiệm vụ trong điều kiện mới. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng được tăng cường. Thành ủy đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07-4-2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật tại các tổ chức đảng. Việc triển khai Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 01-4-2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục cho thấy yêu cầu gắn xây dựng Đảng với kiểm soát quyền lực, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương. Trong nhiệm kỳ 2021-2025, Đà Nẵng đã kiểm tra 646 cơ quan, đơn vị về công khai, minh bạch; xác minh tài sản, thu nhập đối với 333 trường hợp và thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với 93,4% người thuộc diện phải chuyển đổi. Công tác kiểm tra, giám sát ngày càng gắn với xử lý sai phạm, thu hồi tài sản và khắc phục tồn đọng. Quý I/2026, thành phố thu hồi hơn 220 tỷ đồng thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, tiêu cực; đồng thời xử lý 1.981/2.035 dự án, cơ sở nhà đất tồn đọng, đạt 97,35%.

Đà Nẵng thiết lập nhiều định chế tiên phong phòng, chống tham nhũng:

Đà Nẵng là địa phương đầu tiên xuất bản tài liệu chuyên sâu và giới thiệu văn hóa liêm chính cho hơn 4.000 cán bộ chủ chốt; một trong những địa phương đầu tiên triển khai tự đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng hằng năm; địa phương đầu tiên xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi kết luận thanh tra, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước và bản án; lần đầu tiên tổ chức Giải Báo chí về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và đẩy mạnh thi đua trong lĩnh vực này, tạo sức lan tỏa trong xã hội.

Đáng chú ý, trong điều kiện mới, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của Thành ủy tiếp tục được đổi mới theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện. Việc phân công đồng chí Thường trực, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy trực tiếp theo dõi các đảng bộ trực thuộc, cùng phương châm "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm, cho thấy sự chú trọng gắn trách nhiệm, thẩm quyền với kết quả thực hiện nhiệm vụ, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị.

Cùng với đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng bộ thành phố từng bước phát huy vai trò của Mặt trận, báo chí và đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Năm 2025, Mặt trận thành phố và cấp xã thực hiện 242 cuộc giám sát, 175 hội nghị phản biện xã hội; nhiều ý kiến về quy hoạch được tiếp thu trước khi ban hành. Đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học cũng được tham vấn trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các chính sách phát triển của thành phố.

Những chuyển biến bước đầu cũng được phản ánh qua kết quả phát triển của thành phố: tốc độ tăng GRDP năm 2025 đạt 9,18%, sáu tháng đầu năm 2026 tăng 9,52%; FDI cấp mới đạt 283,5 triệu USD, tăng 113,5%, thành phố đón 9,77 triệu lượt khách. Đà Nẵng tiếp tục duy trì kết quả nổi bật về chuyển đổi số, với 4 năm liên tiếp đứng đầu cả nước về Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) và 14 năm liên tục dẫn đầu ICT Index.

Những kết quả đó cho thấy quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện đang từng bước tạo nền tảng cho sự phát triển của thành phố trong không gian mới.

40 năm đổi mới đặt công tác xây dựng Đảng ở Đà Nẵng trước những yêu cầu khác nhau theo từng giai đoạn, từ đổi mới tư duy lãnh đạo đến đổi mới tổ chức và phương thức thực hiện.

Trên nền tảng đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I xác định tầm nhìn đến năm 2045 xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị sinh thái, thông minh, trung tâm thương mại tự do, tài chính quốc tế, công nghiệp, logistics, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thành phố du lịch đáng sống, đẳng cấp khu vực châu Á. Tầm nhìn mới đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực lãnh đạo, quản trị và kiến tạo phát triển của Đảng bộ thành phố.

TS. Trần Thúy Hiền - TS. Lê Thị Ngọc Lệ

Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng


Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 299.

[2], [3], [4], [5], [6], [7] Tỉnh ủy Quảng Nam - Thành ủy Đà Nẵng (2015), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1975-1996), Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 197, 199-202, 211-212, 294-297.

[8] Nguyễn Ngọc Quang (2017), Dấu ấn và kinh nghiệm trong xây dựng Đảng bộ tỉnh, trong Kỷ yếu Hội thảo "Quảng Nam - 25 năm tái lập, đổi mới và phát triển", Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 45-50.

[9] N. Đoan (2024), Quảng Nam tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ 2020-2025, Báo Quảng Nam, ngày 27-2-2024.

[10] Tỉnh ủy Quảng Nam (2022), Tài liệu Quảng Nam 25 năm tái lập, đổi mới và phát triển (1997-2022), tr. 51.

[11] Nguyễn Văn Quảng (2022), Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị (1997-2022) - Kinh nghiệm tại thành phố Đà Nẵng, trong Kỷ yếu Hội thảo "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", tr. 223-231.

[12] Triệu Tùng (2022), Tổng Cục Thống kê ước công bố số liệu tổng sản phẩm thành phố Đà Nẵng năm 2022, Báo Đà Nẵng, ngày 19-9-2022.

[13] Đoàn Duy Tân (2025), Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, trong tài liệu Tham luận Đại hội đại biểu lần thứ I Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2025-2030.

[14] Thành ủy Đà Nẵng (2026), Báo cáo số 424-BC/TU ngày 10-7-2026 về tình hình thực hiện công tác quý II, 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.