Đánh thức những tài sản đang “ngủ”

Thứ ba, 18/08/2026 - 08:06

Việt Nam không thiếu tài sản văn hóa. Chúng hiện diện trong hàng nghìn di tích, làng nghề, lễ hội, kho tư liệu, không gian kiến trúc, tri thức dân gian, nghệ thuật truyền thống và những câu chuyện được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nhưng có tài sản được bảo tồn mà chưa tạo thêm giá trị; có dữ liệu được lưu giữ mà chưa được khai thác; có thương hiệu văn hóa được biết đến nhưng chưa hình thành sản phẩm tương xứng. Bài toán vì thế không chỉ là có bao nhiêu di sản, mà là bao nhiêu giá trị văn hóa đang thực sự được đưa vào dòng chảy phát triển.

Kỳ 3: Đánh thức những tài sản đang "ngủ"

Những di sản "nằm yên"

Khi nói đến tài sản phát triển, người ta thường nghĩ tới đất đai, hạ tầng, vốn hay công nghệ. Nhưng một quốc gia còn sở hữu một vốn liếng khổng lồ, khó nhìn thấy hơn: ký ức, bản sắc, tri thức, câu chuyện, nghệ thuật, thương hiệu, dữ liệu và sức sáng tạo của con người. Đó chính là phần tài sản văn hóa có thể tạo nên sự khác biệt mà tiền vốn hay công nghệ đơn thuần không dễ sao chép.

Nghị quyết số 80-NQ/TW vì thế đặt ra yêu cầu rất đáng chú ý là "nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá", gắn bảo tồn với sinh kế cộng đồng, phát triển kinh tế di sản và hệ sinh thái văn hóa[1]. Hai chữ "nhận diện đầy đủ" cho thấy một vấn đề quan trọng: muốn đánh thức tài sản văn hóa, trước hết phải biết chúng ta đang thực sự sở hữu những gì. Đó có thể kho tàng tri thức dân gian ẩn sau một điệu hát, lễ hội, món ăn, tập quán; bề dày lịch sử của cộng đồng người qua kiến trúc của một công trình cổ hay kho ảnh cũ, bản đồ, phim tư liệu hay hiện vật trong bảo tàng đều có thể trở thành nguyên liệu cho giáo dục, xuất bản, điện ảnh, thiết kế và nhiều ngành sáng tạo.

Thực tế, có những tài sản rất quý nhưng lâu nay chỉ được nhìn thông qua chức năng. Điển hình như các di tích chủ yếu được nhìn như đối tượng bảo tồn; bảo tàng chủ yếu là nơi lưu giữ hiện vật; làng nghề được nhìn từ sản phẩm vật chất; dữ liệu văn hóa được xem như tư liệu lưu trữ. Khi giá trị chỉ được nhận diện ở một lớp, phần giá trị còn lại vẫn nằm yên.

Những tài sản không dễ nhìn thấy

Điều khó nhất của tài sản văn hóa là nhiều giá trị không tồn tại dưới dạng một vật thể cụ thể, khó định lượng. Trong nền kinh tế sáng tạo, chính phần phi vật thể, "vô hình" ấy ngày càng trở nên quan trọng. Một sản phẩm thủ công không chỉ được định giá bằng vật liệu và thời gian lao động, mà còn bởi kỹ thuật độc đáo, dấu ấn văn hóa và thương hiệu. Một địa phương có thể không sở hữu tài nguyên thiên nhiên đặc biệt nhưng vẫn trở thành điểm đến nhờ kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật và phong cách sống. Quan niệm này mở rộng cách nhìn: tài sản văn hóa không chỉ là hiện vật, công trình hay di tích được kiểm kê, mà còn là những giá trị có khả năng tạo ra nhận diện, sáng tạo và sức hấp dẫn. Vấn đề vì thế không chỉ là bảo tồn được bao nhiêu di sản, mà là có bao nhiêu giá trị trong đó được nhận diện, kể lại và chuyển thành những sản phẩm phù hợp với đời sống hôm nay.

Kho dữ liệu văn hóa - "mỏ nguyên liệu" còn chưa được khai phóng

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu trở thành một loại tài nguyên mới. Văn hóa cũng có một "mỏ dữ liệu" rất lớn: hiện vật, thư tịch, bản đồ, hình ảnh, phim tư liệu, tác phẩm nghệ thuật, hồ sơ di sản, câu chuyện dân gian, âm thanh, ký ức cộng đồng. Trong bài phát biểu Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo".

Đánh thức những tài sản đang “ngủ” - Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026. Nguồn: Báo Nhân dân

Nhưng số hóa không thể chỉ dừng ở việc chụp một hiện vật rồi đưa lên mạng. Nếu dữ liệu chỉ được lưu trong một hệ thống đóng, khó tìm kiếm, khó kết nối và khó tái sử dụng, thì tài sản đã được chuyển từ "nằm trong kho" sang "nằm trong máy chủ", chứ chưa thực sự sống. Một kho dữ liệu văn hóa chỉ trở thành tài sản khi có khả năng được tìm kiếm, kết nối và tạo ra sản phẩm mới. Từ một bộ ảnh tư liệu có thể hình thành triển lãm số; từ hồ sơ về một di tích có thể phát triển sản phẩm giáo dục; từ những mô típ mỹ thuật truyền thống có thể tạo cảm hứng cho thiết kế; từ một kho âm thanh dân gian có thể trở thành nguyên liệu cho âm nhạc đương đại.

Đây chính là một thay đổi đáng chú ý của thời đại số: giá trị không còn chỉ nằm trong việc sở hữu dữ liệu, mà nằm trong khả năng làm cho dữ liệu tiếp tục sinh giá trị. Vì vậy, khi nói tới đánh thức tài sản văn hóa, không thể bỏ qua việc biến những kho tư liệu đang phân tán thành nguồn nguyên liệu cho giáo dục, nghiên cứu và sáng tạo. Nếu làm được điều đó, một hiện vật không chỉ có một đời sống trong tủ trưng bày, mà có thể có thêm nhiều "đời sống" trong sách, phim, thiết kế, sản phẩm số và trải nghiệm của công chúng.

Đừng để làng nghề chỉ còn "nghề", di sản chỉ còn "điểm tham quan"

Một tài sản văn hóa sẽ mất dần sức sống nếu bị tách khỏi cộng đồng tạo ra nó. Một làng nghề có thể được công nhận, một lễ hội có thể được phục dựng, một di sản có thể được bảo tồn rất tốt, nhưng nếu người dân không còn sống được bằng những giá trị ấy, sự tiếp nối sẽ trở nên mong manh.

Đây là điều dễ thấy ở nhiều nghề truyền thống: sản phẩm vẫn còn, nghệ nhân vẫn còn, nhưng lớp trẻ không muốn nối nghề vì thu nhập thấp, thị trường hẹp hoặc sản phẩm khó bước vào đời sống hiện đại. Khi đó, điều mất đi không chỉ là một nghề, mà còn là kỹ năng, tri thức và ký ức được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Bởi vậy, giá trị của một làng nghề không thể chỉ được đo bằng số hộ còn làm nghề. Điều quan trọng hơn là nghề ấy có khả năng tiếp tục nuôi sống cộng đồng hay không, sản phẩm có còn tìm được chỗ đứng trong đời sống mới hay không, và người trẻ có nhìn thấy tương lai của mình trong đó hay không.

Tương tự, một di sản nếu chỉ được nhìn như "điểm tham quan" cũng dễ bị giới hạn giá trị. Một nơi có thể đông khách nhưng vẫn nghèo về trải nghiệm; có thể nổi tiếng nhưng cộng đồng xung quanh hưởng lợi rất ít; có thể được bảo tồn vật chất tốt nhưng phần câu chuyện, tri thức và bản sắc lại mờ nhạt dần. Đánh thức tài sản văn hóa vì thế không chỉ là làm cho tài sản ấy được nhìn thấy nhiều hơn, mà phải bám sâu hơn trong đời sống cộng đồng.

Từ "cái đang có" đến "cái có thể trở thành"

Trong giai đoạn hiện nay cần nhìn nhận văn hóa như tài sản. Cần chuyển mạnh từ tư duy "chúng ta có gì?" sang "những gì đang có có thể trở thành gì?". Một câu chuyện dân gian có thể vẫn là câu chuyện dân gian, nhưng cũng có thể trở thành sách tranh, phim hoạt hình hay sản phẩm giáo dục. Một mẫu hoa văn cổ có thể tiếp tục nằm trên hiện vật, nhưng cũng có thể truyền cảm hứng cho thiết kế đương đại. Một không gian kiến trúc cũ có thể chỉ được bảo tồn để ngắm nhìn, nhưng cũng có thể trở thành nơi cộng đồng gặp gỡ và tiếp xúc với nghệ thuật. Kho tư liệu có thể được lưu giữ hàng chục năm, nhưng nếu được số hóa và tổ chức tốt, nó có thể trở thành nguyên liệu cho nhiều thế hệ sáng tạo. Đó không phải là biến mọi thứ thành hàng hóa. Ngược lại, điều cốt lõi là tạo thêm giá trị văn hóa mà không làm mất đi giá trị gốc. Đây cũng chính là nội dung được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm quán triệt tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026: "chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia".

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra hướng tiếp cận này khi yêu cầu nghiên cứu tổng giá trị kinh tế (TEV), phát triển mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" và từng bước xây dựng các công cụ đo lường giá trị văn hóa[2]. Điều đó cho thấy bước tiếp theo của bảo tồn không chỉ là giữ cho tài sản khỏi mất đi, mà còn phải hiểu được năng lực tạo giá trị của chính tài sản ấy.

Đánh thức nhưng không đánh đổi

Tuy nhiên, càng nhìn thấy khả năng tạo giá trị của văn hóa, càng phải cảnh giác với một thái cực khác: khai thác bằng mọi giá. Không phải cứ đông khách hơn, bán được nhiều sản phẩm hơn, thương mại hóa mạnh hơn, đóng góp vào GDP nhiều là di sản được phát huy tốt hơn.

Các lễ hội có thể mất đi chiều sâu nếu bị biến thành sân khấu trình diễn với mục đích thương mại để thu hút du khách. Một làng nghề sẽ mai một, đánh mất bản sắc nếu chỉ chạy theo thị hiếu. Các di tích có thể đông khách hơn nhưng giảm giá trị nếu không gian bị cải tạo quá mức hoặc câu chuyện bị giản lược thành những "điểm check-in". Vì vậy, đánh thức tài sản văn hóa không phải là làm cho tài sản ấy sinh lợi bằng mọi cách. Cốt lõi là tìm được điểm cân bằng giữa bảo tồn và phát huy, để giá trị mới được tạo ra nhưng giá trị gốc không bị bào mòn.

Đây cũng chính là lý do văn hóa được Đại hội XIV xác định là "hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững": càng khai thác giá trị, càng phải giữ được giới hạn để những tài sản vô giá không mất đi ý nghĩa ban đầu.

ThS. Trương Thị Điệp

Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị TP Đà Nẵng

  1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.10.

  2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.11.