
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. (Ảnh: Công Vinh)
Từ hỗ trợ thu nhập đến đồng hành tìm việc
Trong bối cảnh việc làm chịu tác động ngày càng rõ từ những thay đổi của thị trường, BHTN không chỉ giữ vai trò bảo đảm một phần thu nhập cho người lao động khi mất việc mà còn được kỳ vọng hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Sau quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương, hệ thống dịch vụ việc làm đứng trước yêu cầu nhanh chóng ổn định hoạt động, bảo đảm việc giải quyết chế độ cho người lao động không bị gián đoạn, đồng thời nâng chất lượng phục vụ.
Cục Việc làm (Bộ Nội vụ) đang triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo thuận lợi hơn cho người lao động trong tiếp cận và thụ hưởng chính sách BHTN. Trong đó, xây dựng cơ sở dữ liệu BHTN, kết nối với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nội vụ và các cơ sở dữ liệu liên quan được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Việc số hóa và kết nối dữ liệu giúp cơ quan thực hiện chính sách thuận lợi hơn trong quản lý, xử lý hồ sơ, từng bước rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Người lao động cũng có thêm lựa chọn thực hiện thủ tục trực tuyến thay vì phải trực tiếp đến cơ quan dịch vụ việc làm trong mọi trường hợp.
Cùng với công nghệ, chất lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách cũng được chú trọng. Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm đã tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng tư vấn, chăm sóc khách hàng và hỗ trợ học nghề. Đây là những kỹ năng cần thiết trong bối cảnh cán bộ dịch vụ việc làm không chỉ giải quyết hồ sơ mà còn phải nắm bắt nhu cầu, hỗ trợ người lao động tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp.
Tại nhiều Trung tâm dịch vụ việc làm (TTDVVL), công nghệ cũng được đưa vào từng khâu phục vụ. Người lao động có thể lấy số thứ tự qua internet, nhận thông tin tuyển dụng, thông báo thời hạn nhận quyết định hoặc nhắc lịch thông báo tìm kiếm việc làm qua tin nhắn. Một số nơi thực hiện số hóa hồ sơ và trao đổi dữ liệu với cơ quan Bảo hiểm xã hội, góp phần giảm bớt các thao tác thủ công.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các TTDVVL trên cả nước đã tiếp nhận 421.114 người đến nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Sau quá trình giải quyết, 380.735 người có quyết định hưởng trợ cấp, chiếm 90,4% số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp bình quân khoảng 5,6 tháng/người. Tổng số tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp hằng tháng cho người lao động theo các quyết định hưởng đạt 10.623,8 tỷ đồng, với mức hưởng bình quân khoảng 4 triệu đồng/người/tháng.
Những con số này cho thấy BHTN tiếp tục là một chính sách an sinh quan trọng, giúp người lao động có nguồn hỗ trợ trong thời gian chưa tìm được việc làm, giảm áp lực tài chính và có thêm thời gian ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường lao động liên tục thay đổi, hiệu quả của BHTN không nên chỉ được nhìn qua số người được giải quyết trợ cấp hay số tiền đã chi trả. Khả năng giúp người lao động tìm được việc làm mới, học nghề và nâng cao kỹ năng cũng ngày càng trở thành thước đo quan trọng của chính sách.
Gỡ vướng để chính sách đến gần người lao động hơn
Một trong những hướng được chú trọng là mở rộng mạng lưới tiếp nhận hồ sơ. Hiện cả nước có 149 điểm tiếp nhận hồ sơ hưởng BHTN, gồm 34 điểm tại trụ sở chính, 113 chi nhánh, điểm tiếp nhận và 2 điểm tiếp nhận ủy thác tại xã, phường hoặc cụm xã, phường. Có 31/34 TTDVVL đã thành lập thêm chi nhánh hoặc điểm tiếp nhận ngoài trụ sở chính. Việc đưa điểm tiếp nhận đến gần người dân có ý nghĩa thiết thực, nhất là với người lao động ở những địa bàn rộng, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, nơi việc đi lại còn khó khăn.
Dù vậy, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại bộ máy cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện mô hình hoạt động tại các chi nhánh, điểm tiếp nhận. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương thức tổ chức ở một số nơi còn chưa đồng đều, cần được rà soát để bảo đảm chất lượng phục vụ thống nhất hơn.
Chuyển đổi số cũng còn những điểm nghẽn cần xử lý. Một bộ phận người lao động chưa có tài khoản định danh điện tử mức 2, quên mật khẩu, không sử dụng điện thoại thông minh hoặc gặp khó khăn trong khâu xác thực tài khoản. Khi nộp hồ sơ trực tuyến, một số trường hợp còn chụp ảnh giấy tờ không rõ, mất góc, khai sai thông tin cá nhân, số tài khoản ngân hàng hoặc số điện thoại. Hạn chế về kỹ năng số khiến cán bộ tiếp nhận nhiều khi phải hỗ trợ người lao động thực hiện gần như toàn bộ quy trình trực tuyến, làm tăng áp lực cho TTDVVL, nhất là vào những thời điểm số lượng người đến giải quyết thủ tục tăng cao.
Dữ liệu cũng là một vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Tình trạng người lao động có nhiều số sổ Bảo hiểm xã hội khiến việc cộng dồn thời gian tham gia trong một số trường hợp chưa thể thực hiện hoàn toàn tự động, vẫn cần xử lý thủ công. Bên cạnh đó, dữ liệu giữa Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Nội vụ, Cổng Dịch vụ công Quốc gia và hệ thống chuyên ngành BHTN chưa đồng bộ hoàn toàn. Việc phải nhập và xử lý thông tin trên nhiều hệ thống vừa làm tăng thời gian tác nghiệp, vừa có nguy cơ phát sinh sai lệch dữ liệu.
Để khắc phục những hạn chế này, cần tiếp tục hoàn thiện dữ liệu quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, BHTN của người lao động, nhất là dữ liệu của những năm trước; đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống. Về lâu dài, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin chung về dịch vụ việc làm, bao gồm tư vấn, giới thiệu việc làm, BHTN, quản lý người lao động và doanh nghiệp, sẽ giúp các đơn vị có điều kiện khai thác dữ liệu hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp.
Đặc biệt, hoạt động tư vấn cần được đặt ngay trong quá trình người lao động làm thủ tục hưởng BHTN. Thay vì chỉ tập trung hoàn tất hồ sơ, cán bộ có thể chủ động tìm hiểu nhu cầu việc làm, học nghề, trình độ và khả năng đáp ứng công việc của từng người để đưa ra hướng hỗ trợ phù hợp. Sự liên thông giữa bộ phận BHTN với tư vấn, giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề cũng cần được tăng cường. Khi thông tin về nhu cầu tuyển dụng, vị trí việc làm và người tìm việc được cập nhật, kết nối rộng hơn, người lao động có thể tiếp cận cơ hội việc làm ngay trong thời gian đang hưởng trợ cấp.
Ở phía người lao động, việc chủ động hoàn thiện tài khoản định danh điện tử mức 2 trên VNeID sẽ giúp quá trình sử dụng dịch vụ công trực tuyến thuận lợi hơn. Đây cũng là cơ hội để người lao động nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ số trong giải quyết BHTN và các thủ tục hành chính khác. Các TTDVVL, trong quá trình hướng dẫn người lao động thực hiện thủ tục, có thể lồng ghép thêm nội dung hướng dẫn kỹ năng số, giúp người lao động từng bước chủ động hơn khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến, phù hợp với tinh thần "Bình dân học vụ số".
Trong thị trường lao động nhiều biến động, BHTN đang đứng trước yêu cầu đổi mới cả về phương thức thực hiện lẫn chất lượng hỗ trợ. Trợ cấp thất nghiệp vẫn là chỗ dựa cần thiết khi người lao động mất việc, nhưng chính sách sẽ phát huy tốt hơn nếu người thụ hưởng được hỗ trợ tìm việc, học nghề và nâng cao kỹ năng ngay trong thời gian thất nghiệp.
Hoàn thiện dữ liệu, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa mạng lưới dịch vụ việc làm và tăng khả năng kết nối cung - cầu lao động vì vậy không chỉ giúp giải quyết thủ tục nhanh hơn mà còn góp phần đưa BHTN đến gần hơn với mục tiêu hỗ trợ người lao động duy trì sinh kế và sớm trở lại việc làm. Đây là hướng đi cần thiết để chính sách tiếp tục phát huy vai trò trong bảo đảm an sinh và góp phần ổn định thị trường lao động trong giai đoạn mới.
Đoàn Văn