Kỳ 5: Để văn hóa trở thành một cực tăng trưởng mới
Chọn đúng "mũi nhọn", không phát triển theo kiểu dàn hàng ngang
Muốn văn hóa trở thành một cực tăng trưởng mới, điều đầu tiên phải thay đổi là cách lựa chọn ưu tiên. Không phải địa phương nào cũng cần cùng lúc phát triển điện ảnh, biểu diễn, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, thủ công sáng tạo hay nội dung số; càng không nên nơi nào cũng dựng một mô hình trung tâm giống nhau rồi kỳ vọng sẽ tạo ra sức bật. Một cực tăng trưởng chỉ hình thành khi lợi thế đủ rõ, nguồn lực đủ tập trung và có một số dự án đủ sức kéo theo thị trường, doanh nghiệp và chuỗi giá trị.
Phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu rất cụ thể: phải xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng, địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt, doanh nghiệp nào có năng lực và dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ, thị trường. Đáng chú ý, mỗi địa phương trọng điểm chỉ nên lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt; từng dự án phải làm rõ sản phẩm, chủ thể thực hiện, nguồn vốn, thị trường và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.
Điểm cốt lõi nằm ở tư duy chống dàn trải. Trong đó, Hà Nội không cần giống Huế; Đà Nẵng không cần sao chép Thành phố Hồ Chí Minh; Cần Thơ cũng không cần lặp lại mô hình của Hải Phòng. Mỗi địa phương phải tìm được phần giá trị mà nơi khác khó thay thế, rồi tập trung nguồn lực để tạo ra một thương hiệu đủ rõ. Khi đó, văn hóa mới không chỉ là "hoạt động phong phú", mà trở thành một lợi thế cạnh tranh có chủ đích.
Chuyển từ "quản lý văn hóa" sang kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo
Cực tăng trưởng không thể hình thành chỉ bằng cách tổ chức thêm chương trình hay tăng số lượng thiết chế. Điều cần có là một hệ sinh thái nơi người sáng tạo, doanh nghiệp, công nghệ, dữ liệu, vốn và thị trường thực sự gặp nhau.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề nghị phải "chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển"[1]; đồng thời yêu cầu hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng văn hóa số, cơ chế chia sẻ tài nguyên văn hóa và hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, sản xuất, phổ biến và thụ hưởng giá trị văn hóa.
Khác biệt giữa "quản lý" và "kiến tạo" rất lớn. Quản lý thường tập trung vào đúng hay sai, cho phép hay không cho phép, quy trình và thủ tục. Kiến tạo phải trả lời thêm những câu hỏi khác: làm sao để ý tưởng tốt có cơ hội trở thành sản phẩm; làm sao để doanh nghiệp sáng tạo không chết yểu vì rào cản; làm sao để dữ liệu văn hóa có thể được khai thác hợp pháp; làm sao để người sáng tạo sống được bằng sáng tạo; làm sao để sản phẩm tốt đi được ra thị trường rộng hơn.
Khi những điều kiện đó chưa có, nguồn lực dù nhiều vẫn dễ phân tán. Khi hệ sinh thái được thiết kế tốt, một ý tưởng nhỏ cũng có thể mở thành doanh nghiệp, một sản phẩm có thể trở thành thương hiệu, một thương hiệu có thể kéo theo cả một chuỗi giá trị.
Biến dữ liệu và bản quyền thành "tài sản mới" của nền kinh tế
Việt Nam có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Nhưng phần lớn kho tàng ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa, kết nối thành dữ liệu dùng chung, chưa được khai thác hiệu quả như tài sản trí tuệ, chưa trở thành tri thức số và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo hay trí tuệ nhân tạo.
Điều quan trọng nhất không phải chỉ là "đưa di sản lên mạng" như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm quán triệt: số hóa không thể dừng ở việc chụp ảnh, quét tài liệu hay đưa lên một trang thông tin; dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Quan trọng hơn, dữ liệu ấy phải hình thành tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược. Một kho dữ liệu nếu chỉ nằm trong máy chủ thì giá trị vẫn gần như đứng yên. Nhưng khi được chuẩn hóa và bảo hộ quyền, nó có thể trở thành nguyên liệu cho điện ảnh, xuất bản, giáo dục, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch số và AI. Rõ rạng, từ một chất liệu văn hóa có thể tạo ra nhiều vòng sản phẩm và doanh thu mới.

Du khách trải nghiệm ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên. (Nguồn: Báo Hà Nội mới)
Tạo những "đầu tàu" văn hóa
Sẽ không có cực tăng trưởng nếu thiếu chủ thể dẫn dắt. Văn hóa có thể giàu tài nguyên, nhiều nghệ sĩ, nhiều làng nghề, nhiều ý tưởng, nhưng nếu thiếu doanh nghiệp có năng lực sản xuất, phân phối, quản trị bản quyền và mở rộng thị trường, giá trị sẽ khó đi xa.
Rõ ràng, Việt Nam có kho tàng văn hóa phong phú nhưng chưa tạo ra nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, trò chơi, nội dung số có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khoảng cách giữa vốn văn hóa lớn và năng lực sáng tạo, sản xuất, thương mại hóa vẫn còn đáng kể. Điều đó cho thấy phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ chăm lo phần "đầu nguồn" sáng tạo mà phải tạo ra những doanh nghiệp đủ sức đưa sáng tạo tới thị trường. Người sáng tạo có thể tạo ra tác phẩm, nhưng doanh nghiệp mới là chủ thể tổ chức sản xuất, bảo vệ bản quyền, xây thương hiệu, mở kênh phân phối và đưa sản phẩm vượt qua biên giới.
Một "đầu tàu" văn hóa vì thế không nhất thiết phải là doanh nghiệp thật lớn ngay từ đầu, nhưng phải có khả năng kéo theo các mắt xích khác: người sáng tạo, công nghệ, truyền thông, dịch vụ, du lịch, thương mại và xuất khẩu. Khi hình thành được những chủ thể như vậy, văn hóa mới có thể đi từ các dự án riêng lẻ sang chuỗi giá trị, từ chuỗi giá trị sang cụm ngành, và từ cụm ngành sang cực tăng trưởng.
Đích đến không chỉ là GDP, mà là năng lực cạnh tranh quốc gia
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Nhưng nếu chỉ dừng ở hai con số ấy, vẫn chưa thấy hết ý nghĩa của việc đưa văn hóa vào mô hình tăng trưởng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt yêu cầu cao hơn: "phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia". Văn hóa không chỉ tạo thêm doanh thu cho riêng ngành văn hóa. Một quốc gia có hình ảnh mạnh sẽ hấp dẫn du khách hơn, tạo niềm tin cho sản phẩm xuất khẩu, thu hút nhân lực sáng tạo, hỗ trợ thương hiệu doanh nghiệp và nâng vị thế trong quan hệ quốc tế. Điện ảnh, âm nhạc, văn học, xuất bản, thiết kế, hoạt hình, trò chơi điện tử và nội dung số vì thế không chỉ là sản phẩm văn hóa, mà còn là những phương tiện kể câu chuyện Việt Nam với thế giới. Và lĩnh vực này phải trở thành công cụ nâng sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của văn hóa Việt Nam trong môi trường số.
Vì vậy, đích đến không phải là có thêm một ngành đóng góp GDP, mà là tạo ra một nền kinh tế có hàm lượng văn hóa cao hơn trong sản phẩm, thương hiệu, đô thị, du lịch, công nghệ và hình ảnh quốc gia. Khi một sản phẩm Việt Nam được lựa chọn không chỉ vì giá, mà vì thiết kế, câu chuyện và bản sắc; khi một đô thị được nhớ không chỉ vì hạ tầng, mà vì đời sống sáng tạo; khi một thương hiệu Việt Nam có khả năng gợi lên hình ảnh của cả đất nước, khi đó văn hóa không chỉ đồng hành với tăng trưởng mà thực sự trở thành một cực tăng trưởng mới của đất nước.
ThS. Trương Thị Điệp
Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị TP Đà Nẵng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (2026): Bài phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, xem tại https://baochinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-hop-thu-hai-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-102260713135324221.htm ↑