Khi đối ngoại nhân dân trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia: Kỳ 4: Đổi thước đo, thay cách làm để đối ngoại nhân dân đánh thức sức mạnh quốc gia vì một Việt Nam vươn mình
Mở khóa năng lực cạnh tranh quốc gia từ đối ngoại nhân dân
Việt Nam có những mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, lâu đời. Chúng ta cũng đã kết nối mạng lưới dày khắp các chương trình giao lưu, diễn đàn quốc tế, quan hệ kết nghĩa địa phương, mạng lưới cựu sinh viên hay những người bạn gắn bó với đất nước qua nhiều thế hệ. Điều còn thiếu là một cơ chế đủ mạnh để đưa những tài sản quý giá ấy đi xa hơn tình cảm, trở thành sáng kiến, dự án, thị trường, tri thức và ảnh hưởng quốc tế.
Khoảng cách từ tiềm năng đến năng lực cạnh tranh nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Đối ngoại nhân dân chỉ thật sự bước vào chiến lược phát triển khi mỗi quan hệ được đặt đúng chỗ, mỗi chủ thể tìm thấy vai trò của mình và mỗi chương trình để lại một giá trị có thể tiếp tục sinh sôi sau khi sự kiện khép lại. Muốn vậy, Việt Nam cần một cách làm mới: không mở rộng hoạt động theo chiều ngang, mà tập trung tạo ra những điểm đột phá có khả năng kéo cả hệ thống chuyển động.
Đặt đối ngoại nhân dân vào đúng những bài toán lớn của đất nước
Sự thay đổi trước hết phải bắt đầu từ cách đặt mục tiêu. Công tác đối ngoại nhân dân không nên xây dựng kế hoạch riêng rồi mới tìm cách liên hệ với phát triển; ngay từ đầu, hoạt động phải được thiết kế từ những nhu cầu chiến lược của đất nước và từng địa phương.
Việt Nam đang cần gì để bước nhanh hơn trong kỷ nguyên vươn mình? Đó là công nghệ chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao, thị trường cho sản phẩm có giá trị gia tăng, năng lực quản trị hiện đại, công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh và tiếng nói chủ động hơn trước các vấn đề quốc tế. Mỗi nhu cầu ấy đều phải có một "mặt trận" đối ngoại nhân dân tương ứng.
Địa phương hướng tới phát triển công nghiệp bán dẫn cần xác định rõ những trường đại học, hiệp hội chuyên môn, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể đồng hành. Nơi sở hữu di sản đặc sắc phải tìm đường đưa giá trị văn hóa vào các mạng lưới sáng tạo, điện ảnh, thiết kế, du lịch và phân phối nội dung quốc tế. Trường đại học muốn nâng tầm nghiên cứu không thể chỉ tăng số bản ghi nhớ, mà cần chủ động tìm kiếm những nhóm khoa học có khả năng cùng xây dựng phòng thí nghiệm, đào tạo tiến sĩ và phát triển sản phẩm ứng dụng.
Khi mục tiêu được xác định rõ, hoạt động đối ngoại sẽ thoát khỏi sự dàn trải. Thay vì tổ chức một chương trình chung cho nhiều đối tượng, nguồn lực có thể tập trung vào những cộng đồng đủ năng lực tạo ra thay đổi. Thay vì coi đông người tham dự là dấu hiệu thành công, hiệu quả sẽ được nhìn từ những kết quả cụ thể: đối tác nào đã được giữ lại, sáng kiến nào đang tiếp tục, cơ hội nào được mở ra và năng lực nào của Việt Nam được nâng lên.
Văn kiện Đại hội XIV xác định xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao "toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp", phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đồng thời tranh thủ hiệu quả các điều kiện quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước[1]. Tính chuyên nghiệp của đối ngoại nhân dân, vì vậy, phải được thể hiện trước hết ở khả năng lựa chọn đúng mục tiêu và theo đuổi mục tiêu đến khi tạo ra kết quả.
Đặc biệt trong kỷ nguyên số, đối ngoại nhân dân không chỉ kết nối con người với con người mà còn phải kết nối Việt Nam với các trung tâm đổi mới sáng tạo, mạng lưới nghiên cứu, cộng đồng công nghệ và hệ sinh thái AI toàn cầu. Những cây cầu ấy sẽ quyết định tốc độ tiếp cận tri thức và năng lực cạnh tranh Việt Nam trong nhiều thập niên tới.
Trao cho mỗi mối quan hệ một "địa chỉ phát triển"
Không ít quan hệ quốc tế được xây dựng rất tốt nhưng chưa tìm được nơi tiếp nhận phù hợp trong nước. Chuyên gia muốn đóng góp nhưng không biết cơ quan nào đang cần chuyên môn của mình. Doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đến một địa phương nhưng thiếu đầu mối đủ thẩm quyền để theo đuổi cơ hội. Một trường đại học có thiện chí hợp tác nhưng sau chuyến thăm lại không có nhóm chuyên môn tiếp tục làm việc. Những khoảng trống ấy khiến kết nối dễ nguội dần, còn nguồn lực vẫn nằm ngoài các chương trình phát triển.
Giải pháp không nằm ở việc lập thêm nhiều đầu mối, mà ở khả năng điều phối thông minh hơn. Mỗi quan hệ được thiết lập cần gắn với một nhu cầu cụ thể, một cơ quan tiếp nhận và một nhóm chịu trách nhiệm theo đuổi. Khi một chuyên gia về nước, câu hỏi quan trọng không phải họ đã tham dự bao nhiêu cuộc gặp, mà là tri thức của họ được kết nối với trường đại học, doanh nghiệp hoặc địa phương nào. Khi thiết lập quan hệ hữu nghị với một tổ chức quốc tế, cần xác định tổ chức ấy có thể tham gia vào lĩnh vực nào, từ đào tạo nhân lực, hỗ trợ cộng đồng đến chuyển đổi xanh hay phát triển đô thị.
Có thể hình thành các "hồ sơ hợp tác" dùng chung giữa tổ chức đối ngoại nhân dân, địa phương, doanh nghiệp, trường đại học và cơ quan chuyên môn. Hồ sơ không chỉ lưu thông tin liên hệ, mà ghi nhận năng lực, nhu cầu, quá trình tương tác, những cam kết đã có và cơ hội có thể phát triển. Nhờ đó, một mối quan hệ không mất đi khi cán bộ thay đổi; một ý tưởng không bị bỏ quên sau hội nghị; một đối tác không phải bắt đầu lại từ đầu mỗi lần tiếp xúc với cơ quan mới. Cách làm ấy đưa đối ngoại nhân dân ra khỏi quỹ đạo của những cuộc gặp đơn lẻ. Quan hệ được chăm sóc bằng công việc cụ thể, được củng cố bằng thành quả chung và dần trở thành một phần trong năng lực hợp tác của quốc gia.
Tạo những sản phẩm đối ngoại mà công chúng quốc tế muốn tìm đến
Trong môi trường số, hàng nghìn bài viết, video hay chương trình quảng bá vẫn có thể trôi qua nếu nội dung không chạm đến mối quan tâm của người tiếp nhận. Đối ngoại nhân dân vì thế cần chuyển trọng tâm từ tăng số lượng thông tin sang nâng chất lượng sản phẩm và trải nghiệm.
Việt Nam có nhiều câu chuyện có sức lay động: một dân tộc đi qua chiến tranh để lựa chọn hòa bình; một đất nước vượt qua nghèo khó bằng đổi mới; những cộng đồng bền bỉ thích ứng với thiên tai; những con người bình dị gìn giữ di sản, bảo vệ môi trường và tạo ra đổi thay từ cơ sở. Giá trị của những câu chuyện ấy không nằm ở lời ngợi ca, mà ở sự chân thật và khả năng gợi mở những vấn đề chung của nhân loại.
Câu chuyện Việt Nam cần được kể bằng ngôn ngữ của từng cộng đồng. Giới nghiên cứu cần lập luận vững chắc và dữ liệu có thể kiểm chứng. Doanh nghiệp cần nhìn thấy cơ hội cùng môi trường hợp tác rõ ràng. Người trẻ cần những hình thức sáng tạo, gần gũi và có khả năng tương tác. Báo chí quốc tế cần đầu mối tin cậy, thông tin nhanh và những nhân vật đủ sức làm cho vấn đề trở nên sống động.
Điều đó đòi hỏi sự tham gia của các nhà báo, nghệ sĩ, nhà làm phim, chuyên gia công nghệ, học giả, doanh nghiệp sáng tạo và những người am hiểu công chúng nước ngoài. Cơ quan đối ngoại giữ định hướng, bảo đảm tính chính xác; cộng đồng sáng tạo tìm cách đưa nội dung đến với thế giới bằng ngôn ngữ phù hợp.
Đặc biệt, khi bước vào những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, tiêu chuẩn xanh hay dữ liệu số, đối ngoại nhân dân cũng phải góp phần đưa tiếng nói Việt Nam tham gia hình thành chuẩn mực quốc tế, chứ không chỉ thích ứng với những quy tắc do các quốc gia khác đặt ra. Đây cũng là bước chuyển về tư duy từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Mở không gian để xã hội cùng làm đối ngoại
Đối ngoại nhân dân mang tên "nhân dân", nhưng cơ chế thực hiện ở nhiều nơi vẫn nghiêng về hoạt động của các cơ quan, tổ chức chuyên trách. Khi xã hội ngày càng năng động, cách tổ chức ấy cần được mở rộng để những sáng kiến tốt từ doanh nghiệp, trường đại học, thanh niên, nghệ sĩ và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có cơ hội đi vào đời sống đối ngoại.
Nhà nước không cần làm thay các chủ thể xã hội. Vai trò quan trọng hơn là định hướng, hỗ trợ, kết nối và tạo hành lang để sáng kiến phát triển đúng hướng. Một quỹ hỗ trợ dự án đối ngoại nhân dân có thể lựa chọn những ý tưởng sáng tạo về giao lưu học thuật, văn hóa, khoa học, môi trường và thanh niên. Cơ chế đồng tài trợ sẽ huy động thêm nguồn lực từ doanh nghiệp, địa phương và tổ chức xã hội, đồng thời tạo trách nhiệm chung đối với kết quả.
Những mô hình mới cần được thử nghiệm ở quy mô phù hợp. Một thành phố có thể mời chuyên gia quốc tế đến làm việc dài hạn với các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp địa phương. Một trường đại học có thể tổ chức chương trình để sinh viên quốc tế tham gia giải quyết bài toán cộng đồng tại Việt Nam. Một tổ chức nhân dân có thể xây dựng mạng lưới học giả trẻ nghiên cứu về Việt Nam. Một doanh nghiệp văn hóa có thể được hỗ trợ tham dự các thị trường sáng tạo quốc tế, nơi sản phẩm Việt Nam được tiếp cận trực tiếp với nhà phát hành và công chúng.
Những sáng kiến tạo hiệu quả sẽ được tổng kết và mở rộng. Những mô hình không phù hợp cần được điều chỉnh hoặc dừng lại. Cách làm ấy tạo ra một nền đối ngoại biết học hỏi, chấp nhận thử nghiệm và không ngừng làm mới mình trước sự thay đổi của thế giới.
Đổi thước đo để thay đổi cách làm
Khi hiệu quả vẫn được đo chủ yếu bằng số sự kiện, số đoàn và số văn bản ký kết, bộ máy sẽ tự nhiên ưu tiên những hoạt động dễ tổ chức, dễ thống kê. Muốn thay đổi thực chất, phải thay đổi cách đánh giá. Một chương trình đối ngoại nhân dân cần được nhìn theo ba lớp kết quả. Trước hết là mức độ tiếp cận đúng nhóm công chúng và đối tác. Tiếp đó là chất lượng tương tác: họ có hiểu hơn về Việt Nam, có tiếp tục tham gia, có chủ động giới thiệu thêm đối tác hay không. Quan trọng nhất là tác động dài hạn: quan hệ ấy đã tạo ra sản phẩm, sáng kiến, dự án hoặc sự ủng hộ nào có giá trị đối với đất nước.
Có những kết quả không thể đo ngay bằng tiền, nhưng vẫn có thể nhận diện qua sự thay đổi trong thái độ, mức độ hiện diện của quan điểm Việt Nam trong nghiên cứu và truyền thông quốc tế, số lượng học giả gắn bó lâu dài với Việt Nam hay khả năng huy động tiếng nói ủng hộ khi lợi ích chính đáng của đất nước cần được bảo vệ.
Đánh giá theo kết quả cũng đòi hỏi nguồn lực được đầu tư theo thời gian đủ dài. Quan hệ với thanh niên, học giả, cựu sinh viên và những người có ảnh hưởng quốc tế không thể vun đắp theo chu kỳ từng năm. Một chương trình chiến lược phải có mục tiêu nhiều năm, đội ngũ ổn định và nguồn lực tương xứng. Tuy nhiên, phương thức hoạt động ở một số nơi còn chậm đổi mới, chưa theo kịp truyền thông hiện đại; việc phối hợp giữa các trụ cột đối ngoại đôi lúc chưa đồng bộ. Khắc phục những điểm nghẽn ấy cần bắt đầu từ cơ chế thực hiện, không chỉ từ những lời kêu gọi nâng cao nhận thức.
Đối ngoại nhân dân không cần khoác lên mình những khái niệm lớn để chứng minh tầm quan trọng. Giá trị của nó được thể hiện bằng những cánh cửa mở ra cho đất nước: một công nghệ tìm được nơi ứng dụng, một sản phẩm Việt Nam bước vào thị trường mới, một học giả hiểu đúng và lên tiếng khách quan về Việt Nam, một sáng kiến của Việt Nam được cộng đồng quốc tế hưởng ứng.
Khi mỗi quan hệ đều tìm được "địa chỉ phát triển", mỗi hoạt động đều được tiếp nối bằng công việc và mỗi nguồn lực xã hội đều có không gian đóng góp, đối ngoại nhân dân sẽ trở thành nhịp cầu, mà những nhịp cầu ấy không chỉ nối hai bờ trong các mối quan hệ trong tiến trình hội nhập mà nối liền giữa hiện tại và tương lai đất nước.
ThS. Trương Thị Điệp
Phó Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 87 - 88.