UBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Quyết định số 121/2026/QĐ-UBND quy định việc xác định diện tích đất ở và các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà được thể hiện chung đất ở với đất khác trên giấy chứng nhận đã cấp trên địa bàn tỉnh.
Quy định áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ; các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác có liên quan.
Diện tích đất ở được xác định như thế nào?
Theo quyết định, việc xác định diện tích đất ở được thực hiện trên cơ sở thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống.

Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống.
Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nhưng diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó.
Trường hợp nhiều hộ gia đình, cá nhân sử dụng chung một thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống thì diện tích đất ở được xác định bằng tổng diện tích đất ở của các hộ gia đình, cá nhân được xác định theo hai trường hợp nêu trên. Tuy nhiên, diện tích đất ở được công nhận không vượt quá diện tích thửa đất.
.png)
Hạn mức công nhận đất ở tối đa đối với hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo Quyết định số 51/2026/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Tháp quy định hạn mức công nhận đất ở, hạn mức giao đất ở trên địa bàn tỉnh.
Đất từng có nhà ở nhưng hiện không còn được xác định ra sao?
Quyết định cũng quy định cụ thể đối với trường hợp trên giấy chứng nhận đã cấp chưa xác định diện tích đất ở, nhưng thực tế thửa đất không còn nhà ở.
Theo đó, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP, nếu có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống trên đất trước ngày 1/7/2004 nhưng đến nay không còn nhà ở trên đất, khi có yêu cầu xác định diện tích đất ở thì được xem xét theo quy định.
Cụ thể, diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở nhưng không vượt quá diện tích thửa đất.
Quy định này làm rõ cách xác định diện tích đất ở đối với những thửa đất từng có nhà ở, công trình phục vụ đời sống nhưng hiện trạng sử dụng đất đã thay đổi.
Những giấy tờ làm căn cứ xác định thời điểm hình thành nhà ở
Để xác định thời điểm hình thành nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, UBND tỉnh Đồng Tháp quy định 9 nhóm giấy tờ làm căn cứ xác định.
Các giấy tờ bao gồm biên lai nộp thuế sử dụng đất ở, thuế nhà đất; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành; quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất.
Ngoài ra, hợp đồng hoặc giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có địa chỉ thuộc thửa đất cần xác định diện tích đất ở cũng được sử dụng làm căn cứ.
Các giấy tờ về mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định tại Điều 140 Luật Đất đai cũng thuộc nhóm giấy tờ được chấp nhận.
Đối với giấy tờ mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất, quyết định quy định trường hợp có chữ ký của các bên liên quan được lập từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004.
Bên cạnh đó, giấy tờ về kê khai, đăng ký nhà, đất có xác nhận của UBND cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh tại thời điểm kê khai từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 cũng được sử dụng để xác định thời điểm hình thành nhà ở.
Các giấy tờ về đăng ký thường trú, tạm trú tại nhà ở gắn với đất do cơ quan có thẩm quyền cấp cũng là căn cứ để xem xét.
Trường hợp không có một trong các thông tin, giấy tờ nêu trên hoặc trên giấy tờ không ghi rõ thời điểm xác lập, UBND tỉnh cho phép sử dụng biên bản ghi nhận kết quả của Hội đồng đăng ký đất đai trong trường hợp đủ điều kiện xác lập thông tin và mục đích sử dụng đất.
Ngoài ra, biên bản của địa phương lấy ý kiến của dân cư về nguồn gốc và thời điểm hình thành nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống cũng là một trong những căn cứ được quy định.
Theo quyết định, thời điểm hình thành nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống là căn cứ xác định thời điểm sử dụng đất để áp dụng hạn mức công nhận đất ở.
Trường hợp thông tin trên các loại giấy tờ không thống nhất về thời gian thì thời điểm hình thành nhà ở được xác định theo giấy tờ có ngày, tháng, năm sớm nhất.
Quy định mới có hiệu lực từ ngày 5/11/2026
Quyết định số 121/2026/QĐ-UBND có hiệu lực từ ngày 5/11/2026.
UBND tỉnh Đồng Tháp giao Chánh Văn phòng UBND tỉnh, thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch UBND các xã, phường cùng các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
Trong quá trình triển khai, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các địa phương, đơn vị phản ánh về UBND tỉnh thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, báo cáo xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Thiên An