Theo Bộ trưởng, các cơ chế đặc thù, vượt trội được đề xuất trong dự thảo phải được triển khai thận trọng, có phạm vi và giới hạn rõ ràng, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình phát triển đô thị.
Tạo hành lang pháp lý đột phá cho các đô thị động lực
Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận toàn thể, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàn Thanh Tùng cho biết, dự án Luật Phát triển đô thị hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý ổn định, có tính đột phá nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, qua đó thúc đẩy các đô thị động lực.
“Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng, chuyển từ tư duy quản lý chặt sang kiến tạo phát triển, thực hiện phân quyền triệt để theo phương châm địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, ông Tùng nói.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình thêm về dự án Luật Phát triển đô thị
Theo Bộ trưởng, dự thảo được thiết kế là một đạo luật khung về phân quyền, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đồng thời gắn chặt việc trao quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Trước đề nghị của một số đại biểu về việc cho phép các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt được áp dụng ngay cơ chế, chính sách vượt trội dành cho đô thị đặc biệt, không cần giao Chính phủ quyết định, Bộ trưởng cho rằng việc mở rộng cơ chế cần được thực hiện thận trọng và có kiểm soát.
Theo đó, dự thảo giao Chính phủ quyết định việc áp dụng cơ chế đặc thù đối với các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt, với điều kiện phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền được xác định là Bộ Chính trị, cùng các điều kiện khác quy định tại khoản 3 Điều 1.
Lý giải sự cần thiết của quy định này, Bộ trưởng nêu rõ 4 căn cứ.
Trước hết, việc áp dụng các cơ chế vượt trội phải tương xứng với năng lực tổ chức thực hiện của từng địa phương. Theo Bộ trưởng, những chính sách mang tính đột phá đòi hỏi trình độ quản trị và nguồn lực tài chính lớn, về cơ bản phù hợp hơn với các thành phố đã được công nhận là đô thị đặc biệt.
Việc giao Chính phủ xem xét, quyết định sẽ giúp đánh giá sát thực tế năng lực của từng địa phương trước khi trao quyền, qua đó bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai chính sách.
Bên cạnh đó, việc giới hạn phạm vi áp dụng còn nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nếu mở rộng đại trà quyền ban hành các quy định khác với quy định của Trung ương, có thể phát sinh nguy cơ phá vỡ khuôn khổ pháp lý chung hoặc dẫn đến tình trạng “địa phương hóa” pháp luật.
Theo Bộ trưởng, quy định tại khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật cũng tạo sự linh hoạt, kịp thời trong công tác điều hành. Chính phủ có thể chủ động áp dụng chính sách đối với những cực tăng trưởng mới theo lộ trình phát triển, thay vì phải chờ sửa luật hoặc trình Quốc hội ban hành một nghị quyết đặc thù riêng.
Đối với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương nhưng thành phố đó chưa phải đô thị đặc biệt và nội dung chưa được quy định trong Luật, khoản 5 Điều 1 dự thảo quy định Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành, đồng thời báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Các đại biểu tham dự Phiên họp. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Cuối cùng, việc kiểm soát phạm vi áp dụng còn nhằm tránh tình trạng dàn trải, phân tán nguồn lực; hạn chế nguy cơ các địa phương chạy đua ưu đãi, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, làm phân tán nguồn lực quốc gia và xói mòn ý nghĩa của cơ chế đặc thù.
Bộ trưởng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu ý kiến đại biểu để hoàn thiện Điều 1, nhất là các nguyên tắc, điều kiện và giới hạn làm căn cứ cho Chính phủ quyết định áp dụng chính sách đặc thù, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.
Theo dự thảo, các thành phố thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật không được ban hành văn bản quy định khác hoặc thí điểm cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo. Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản của địa phương nếu xét thấy văn bản đó ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh.
Trong lĩnh vực quy hoạch, việc lập, điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố và các quy hoạch không gian đặc thù, bao gồm không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao, bắt buộc phải lấy ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Phân quyền phải đi cùng những “van điều tiết” và “khóa quyền lực”
Giải trình về cơ chế kiểm soát quyền lực, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật được thiết kế theo mô hình phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng, đáp ứng yêu cầu “có van, có khóa”.
Trước hết là những “van điều tiết” và các nguyên tắc nền tảng. Tại Điều 3 và Điều 4, dự thảo đã xác lập những giới hạn nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia và tôn trọng quy luật thị trường.
Việc phân quyền không được ảnh hưởng đến các yêu cầu này. Mọi cơ chế đặc thù đều loại trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo và trong quá trình thực hiện Luật phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Bên cạnh những nguyên tắc chung là các “khóa quyền lực” cụ thể trong từng lĩnh vực. Trong xây dựng thể chế, theo Điều 7, dù đô thị đặc biệt như TP.HCM được ban hành văn bản có nội dung khác với quy định của Trung ương, địa phương vẫn phải tuân thủ quy trình chặt chẽ về đánh giá tác động, tham vấn ý kiến các bộ, ngành và thực hiện chế độ báo cáo trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ban hành.
Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản của thành phố nếu văn bản đó trái pháp luật hoặc xâm phạm lợi ích quốc gia.
Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), dự thảo đặt ra “khóa” về thời gian. Thời gian thí điểm tối đa là 5 năm; trường hợp gia hạn cũng không được quá 5 năm. Chính quyền thành phố phải tạm dừng ngay việc thí điểm nếu phát sinh tác động tiêu cực vượt quá dự báo.
Trong quản lý tài chính và đầu tư, việc huy động vốn, phát hành trái phiếu và vay nợ phải nằm trong hạn mức nợ công được phê duyệt, bảo đảm rủi ro thuộc trách nhiệm của địa phương. Đối với các dự án lớn, Chính phủ vẫn giữ quyền quyết định mức bổ sung ngân sách có mục tiêu, qua đó bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.
Với các dự án chậm triển khai, chính sách đặc biệt chỉ được áp dụng khi đã có kết luận thanh tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Dự thảo nghiêm cấm việc lợi dụng cơ chế đặc thù để hợp pháp hóa những sai phạm do tham nhũng, trục lợi.
Theo Bộ trưởng, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu. Đây là chốt chặn cuối cùng trong kiểm soát quyền lực khi triển khai Luật. Cơ chế kiểm soát cũng không chỉ được thể hiện tại chương 4 về giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình, mà phải xuyên suốt từng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội.
Phương Vy