Ảnh minh họa. Chinhphu.vn
Trong tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khẳng định một chân lý: mỗi bước ngoặt lớn đều gắn với khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Từ những chiến thắng lẫy lừng trong các cuộc kháng chiến đến công cuộc kiến thiết đất nước thời bình, tinh thần tự lực, tự cường luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, Việt Nam đứng trước những thời cơ lớn lao đồng thời cũng đối diện không ít thách thức. Trên nền tảng đó, Đảng ta đã xác định hai mục tiêu chiến lược mang tầm vóc lịch sử:"đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"[1]. Đây không chỉ là những con số mang ý nghĩa thời gian, mà là biểu tượng của khát vọng dân tộc, là cam kết chính trị và cũng là lời hiệu triệu hành động đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới – một hành trình đầy gian nan nhưng rực rỡ thành tựu, qua đó củng cố niềm tin, nhận diện thách thức, đấu tranh với những quan điểm hoài nghi, và đề ra những giải pháp mang tính đột phá.
1. Cơ sở thực tiễn từ 40 năm đổi mới
Công cuộc đổi mới được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội VI (1986) đã mở ra một chương mới trong lịch sử phát triển của đất nước. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam đã chuyển mình sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một bước ngoặt mang tính cách mạng.
Trước hết, thành tựu nổi bật nhất là tăng trưởng kinh tế ấn tượng và liên tục. Giai đoạn 1987 - 2025 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 6,8%/năm. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Từ nền kinh tế có quy mô 8 tỷ USD vào năm 1986, Việt Nam đã vươn lên đạt 514 tỷ USD vào năm 2025, xếp thứ 32 trên thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 5026 USD/người chính thức vượt qua quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều theo chuẩn nghèo của Chính phủ còn 1,3%, hàng chục triệu người thoát nghèo, tạo nên một kỳ tích được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Cùng với đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025; khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống còn 11,6%. Nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực. Công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, trở thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế. Uy tín và vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao. Từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong lĩnh vực chính trị – xã hội, hệ thống chính trị không ngừng được củng cố, ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Văn hóa, giáo dục, y tế có nhiều bước tiến quan trọng. Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên. Đặc biệt, bài học lớn nhất của 40 năm đổi mới chính là sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong phương thức phát triển. Đó là sự kết hợp giữa ổn định chính trị và đổi mới kinh tế; giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Những thành tựu này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn mang giá trị lý luận sâu sắc, tạo tiền đề vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới.
2. Nội hàm, ý nghĩa và những vấn đề đặt ra đối với hai mục tiêu chiến lược 100 năm
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta khẳng định: " Đất nước ta đã thực sự bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc"[2], đồng thời Đảng ta tiếp tục khẳng định và quyết tâm hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược: 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2030) và 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045). Hai mục tiêu 100 năm mà Đảng đề ra không phải là những khát vọng viển vông, mà được xây dựng trên cơ sở khoa học, thực tiễn và xu thế phát triển của thời đại. Mục tiêu đến năm 2030 đặt ra yêu cầu Việt Nam phải hoàn thành cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đạt trình độ phát triển trung bình cao. Đây là bước chuyển quan trọng từ "đang phát triển" sang "phát triển có nền tảng vững chắc". Cụ thể "Giai đoạn 2026-2030: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đạt trên 50%. Tổng tích luỹ tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỉ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%. Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP". Hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ý nghĩa của hai mục tiêu này không chỉ nằm ở con số GDP hay thu nhập bình quân đầu người, mà còn ở việc khẳng định vị thế dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ chiến lược và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là sự tiếp nối logic của hành trình "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội" trong điều kiện mới. Quan trọng hơn, hai mục tiêu này thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam - khát vọng vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu.
Để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những nội dung mang tính đột phá.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là "điểm nghẽn của điểm nghẽn". Thể chế phải đảm bảo minh bạch, công bằng, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. "Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển; giữa kinh tế, xã hội, môi trường với quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa đổi mới, hoàn thiện thể chế với các chuyển đổi trọng tâm, toàn diện trên mọi lĩnh vực, phù hợp với mô hình chính quyền 3 cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước..."[3].
Thứ hai, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là những trụ cột chính để Việt Nam xác lập mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, đây là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. "Phát triển khoa hoc, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt pha, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới"[4].
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực toàn diện. Con người là trung tâm của phát triển. Giáo dục, đào tạo cần được đổi mới căn bản, toàn diện, gắn với nhu cầu thực tiễn và xu hướng toàn cầu. "Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo"[5]. Cần đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo; tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới; chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông; cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao; hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
Thứ tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. "Tiếp tục hoàn thiện động bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng văn hóa, giáo dục, thể thao"[6].
Thứ năm, bảo đảm phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển. Hoàn thiện mô hình, cơ chế chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình già hóa dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đươn thuần, tôn trọng quy luật tự nhiên; phát triển kinh tế với tư duy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Bên cạnh sự đồng thuận rộng rãi, vẫn tồn tại những quan điểm hoài nghi, thậm chí phủ nhận tính khả thi của hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta xác định. Những quan điểm này thường xuất phát từ ba luận điểm chính.
Thứ nhất, có ý kiến cho rằng Việt Nam còn khoảng cách xa so với các nước phát triển, nên mục tiêu đến năm 2045 là "quá tham vọng". Tuy nhiên, lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, với chiến lược đúng đắn và quyết tâm chính trị cao, việc rút ngắn khoảng cách là hoàn toàn khả thi. Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc đều là những ví dụ điển hình. Việt Nam có lợi thế về dân số trẻ, vị trí địa chính trị quan trọng, và nền tảng ổn định chính trị - đây là những yếu tố không thể xem nhẹ.
Thứ hai, có ý kiến cho rằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là "mâu thuẫn" và kém hiệu quả. Thực tế qua hơn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã chứng minh điều ngược lại. Chính mô hình này đã giúp Việt Nam vừa phát triển kinh tế, vừa giữ vững định hướng xã hội, hạn chế bất bình đẳng và đảm bảo ổn định chính trị.
Thứ ba, một số quan điểm bi quan trước những thách thức như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, bẫy thu nhập trung bình, chiến tranh thương mại, chiến tranh ở các nước trong khu vực và thế giới… Tuy nhiên, thách thức là điều tất yếu đối với mọi quốc gia. Vấn đề không phải là tránh né, mà là nhận diện đúng và có giải pháp phù hợp, cùng với đó Đảng ta có đường lối ngoại giao phù hợp, có thể tận dụng để thu hút các nguồn lực một cách có hiệu quả hơn.
Do đó, việc đấu tranh phản biện các quan điểm hoài nghi không chỉ nhằm bảo vệ đường lối của Đảng, mà còn củng cố niềm tin xã hội, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động.
3. Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong khát vọng vươn mình phát triển của dân tộc
Trong mọi giai đoạn lịch sử, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới, vai trò của quân đội không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quốc phòng, mà còn mở rộng sang phát triển kinh tế - xã hội.
Trước hết, Quân đội là lực lượng bảo đảm vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Không có an ninh, quốc phòng thì không thể có phát triển bền vững. Do đó cần tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, "bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ...".
Thứ hai, quân đội tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các đoàn kinh tế - quốc phòng đã góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Thứ ba, quân đội là lực lượng đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Những hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân đã trở thành biểu tượng của tinh thần trách nhiệm và nhân văn. Thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, "tham gia xóa đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn; xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế ở cơ sở ... Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, xóa nhà tạm, nhà dột nát". [7]
Thứ tư, quân đội đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghiệp quốc phòng, góp phần nâng cao tiềm lực quốc gia. "Phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường, huy động tối đa tiềm lực khoa học và công nghệ của từng ngành, từng lĩnh vực; chủ động nắm, tiếp thu sáng tạo, đi tắt đón đầu, từng bước đột phá về công nghệ, làm chủ cồng nghệ chiến lược phục vụ nghiên cứu phát triển vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong tình hình mới"[8].
Thứ năm, quân đội là lực lượng tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Quân đội "tiếp tục là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, âm mưu "phi chính trị hóa" Quân đội, những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội"[9].
Hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta xác định là sự kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng dân tộc. Đó không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế, mà còn là hành trình khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng vào tương lai. Tuy nhiên, niềm tin phải đi đôi với hành động. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người dân cần nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình. Trong hành trình đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định, sự đồng lòng của nhân dân là sức mạnh to lớn, và Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt bảo vệ, kiến tạo hòa bình và trực tiếp tham gia vào tiến trình đó. Đất nước đang đứng trước thời cơ lịch sử để "vươn mình". Con đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng với bản lĩnh và khát vọng, dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm, xây dựng một đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu./.
********
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia sự thật, H.2026, T1, tr.84.
2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nxb. Quân đội nhân dân, H. 2025, tr.57.
4. Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia sự thật, H.2026, T1, tr. 84.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2026, T1, tr.148.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2026, T1, tr.143.
[4] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2026, T1, tr.145.
[6] Sđd, tr.148.
[7] Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nxb. Quân đội nhân dân, H. 2025, tr.57.
[8] Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.
[9] Tổng cục Chính trị, Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nxb. Quân đội nhân dân, H. 2025, tr 55 - 56.
1. Trung tá, Thạc sỹ Phạm Hồng Quân
Phó Đội trưởng Đội Đặc nhiệm số 3,
Đoàn Đặc nhiệm PCMT&TP miền Nam,
Cục PCMT&TP Bộ đội Biên phòng.
2. Thiếu tá, Thạc sỹ Trần Đình Tuấn
Giảng viên Khoa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Lục quân.