Hồ sơ BHTN không trung thực, người vi phạm đối mặt những chế tài nào?

Thứ bảy, 26/09/2026 - 12:00

Làm giả hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ để hưởng bảo hiểm thất nghiệp có thể kéo theo nhiều hệ quả, từ xử phạt hành chính, buộc hoàn trả toàn bộ khoản tiền hưởng sai đến trách nhiệm hình sự. Quy định mới cũng đặt trách nhiệm đối với cả người sử dụng lao động và người lao động trong việc kê khai, lập và sử dụng hồ sơ hưởng chế độ.

Người lao động tìm hiểu thông tin tuyển dụng tại sàn việc làm. (Ảnh: VL)

Hồ sơ không trung thực có thể bị xử phạt đến 150 triệu đồng

Nghị định 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ ngày 10/9/2026. Trong nhóm quy định về vi phạm liên quan đến lập hồ sơ và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, nghị định mới dành những mức xử phạt cụ thể đối với hành vi gian lận hồ sơ.

Theo khoản 2 Điều 47 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có thể bị phạt từ 10-20 triệu đồng đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có hành vi gian lận, giả mạo. Tổng mức phạt đối với hành vi này không quá 75 triệu đồng đối với cá nhân.

Các hành vi bị xử lý gồm làm giả hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp khi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc cố ý làm sai lệch thông tin, tài liệu trong hồ sơ nhằm hưởng chế độ nhưng chưa đến mức xử lý hình sự.

Đáng chú ý, mức phạt trên được áp dụng đối với cá nhân. Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt tiền được tính bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân. Như vậy, với người sử dụng lao động là tổ chức, số tiền phạt có thể lên tới 20-40 triệu đồng cho mỗi hồ sơ vi phạm, trong khi tổng mức phạt tối đa tương ứng có thể lên tới 150 triệu đồng.

Tiền phạt cũng không phải hậu quả duy nhất. Người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại cho cơ quan bảo hiểm xã hội các khoản tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và các khoản hỗ trợ khác đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm.

Nói cách khác, người vi phạm có thể đồng thời phải chịu xử phạt về hành vi gian lận và hoàn trả khoản tiền đã hưởng không đúng quy định. Việc đã nhận trợ cấp hoặc hỗ trợ vì thế không đồng nghĩa với việc khoản tiền đó được giữ lại nếu sau đó cơ quan có thẩm quyền xác định hồ sơ có gian lận.

Người lao động cũng phải chịu trách nhiệm khi kê khai sai

Không chỉ người sử dụng lao động, người lao động cũng có thể bị xử phạt nếu cung cấp thông tin không đúng sự thật hoặc làm sai lệch hồ sơ liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo quy định được nêu tại Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người lao động có thể bị phạt từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội dung liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp khi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Một tình huống khác cần lưu ý là nghĩa vụ thông báo khi người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có việc làm thuộc trường hợp phải chấm dứt hưởng trợ cấp. Nếu đã có việc làm nhưng không thông báo theo quy định và tiếp tục nhận trợ cấp, người lao động có thể bị xử lý.

Tương tự, một số thay đổi về tình trạng của người hưởng như thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, tham gia dân quân thường trực, hưởng lương hưu hằng tháng hoặc đi học có thời hạn trên 12 tháng cũng thuộc các trường hợp cần thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định.

Như vậy, trách nhiệm của người hưởng BHTN không dừng lại ở thời điểm nộp hồ sơ. Trong quá trình nhận trợ cấp, người lao động phải chủ động cập nhật những thay đổi liên quan đến tình trạng việc làm và các điều kiện hưởng chế độ để tránh phát sinh khoản hưởng sai và các hệ quả pháp lý.

Gian lận nghiêm trọng có thể chuyển từ xử phạt sang xử lý hình sự

Ranh giới giữa vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào tính chất, hành vi, số tiền chiếm đoạt hoặc mức thiệt hại cùng các tình tiết khác theo quy định pháp luật.

Điều 214 Bộ luật Hình sự quy định về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, người lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để lừa dối cơ quan bảo hiểm; hoặc sử dụng hồ sơ giả, hồ sơ bị làm sai lệch để hưởng chế độ trái quy định, nếu đáp ứng các điều kiện luật định, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ở khung cơ bản, trường hợp chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng có thể bị phạt tiền từ 20-100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Nếu hành vi có tổ chức, mang tính chuyên nghiệp, sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tái phạm nguy hiểm hoặc số tiền chiếm đoạt, thiệt hại ở mức cao hơn, mức xử lý cũng tăng tương ứng. Trường hợp chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, khung hình phạt có thể từ 5-10 năm tù.

Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng làm rõ khái niệm "lập hồ sơ giả". Theo hướng dẫn này, hồ sơ BHTN có giấy tờ, tài liệu giả được lập để thanh toán hoặc hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và các chế độ liên quan có thể thuộc phạm vi của hành vi được quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự.

Đáng chú ý, trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành, người làm giả hồ sơ còn có thể bị xem xét về các tội danh khác liên quan đến làm giả hoặc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo hướng dẫn của Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP.

BHTN được thiết kế nhằm hỗ trợ người lao động vượt qua giai đoạn mất việc, đồng thời tạo điều kiện để họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Vì vậy, kê khai trung thực, sử dụng đúng hồ sơ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo không chỉ là yêu cầu về thủ tục mà còn là trách nhiệm của người tham gia. Các quy định xử phạt mới cho thấy hành vi gian lận có thể dẫn tới hậu quả tài chính đáng kể, thậm chí chuyển sang trách nhiệm hình sự nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đoàn Văn