Kỳ 1: Sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế - "đường băng" mới cho Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên vươn mình
Khi lợi thế quốc gia được quyết định bởi khả năng được lựa chọn
Trong xu hướng hiện nay, các quốc gia không chỉ cạnh tranh bằng quy mô thị trường, tài nguyên, nhân công hay kết cấu hạ tầng mà còn cạnh tranh bằng uy tín, sức hấp dẫn, độ tin cậy và khả năng kết nối với thế giới. Một quốc gia không lớn về diện tích, không giàu tài nguyên, vẫn có thể trở thành điểm đến của đầu tư, nhân tài và đổi mới sáng tạo nếu được nhìn nhận là đối tác ổn định, đáng tin cậy và có khả năng cùng kiến tạo giá trị cho thế giới đương đại. Bởi vậy, cạnh tranh quốc gia ngày nay không chỉ là cuộc đua xem ai sản xuất nhiều hơn, quy mô lớn hơn hay đổi mới công nghệ nhanh hơn, mà là cuộc cạnh tranh để được lựa chọn: được doanh nghiệp lựa chọn làm nơi đầu tư; được nhà khoa học lựa chọn làm đối tác; được sinh viên lựa chọn làm nơi học tập; được du khách lựa chọn làm điểm đến; được cộng đồng quốc tế lựa chọn để cùng tham gia xử lý những vấn đề chung.
Đại hội XIV của Đảng đã đặt yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia khi đặt trong dòng chảy lớn của thời đại: "Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ lượng tử…, kéo theo nhiều biến đổi mang tính thời đại, đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội…, đặt ra yêu cầu cấp bách về xác lập mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất mới và năng lực cạnh tranh quốc gia"[1]. Thông điệp rất rõ ràng, muốn thích ứng, tồn tại và phát triển cần phải gia tăng sức mạnh quốc gia. Tuy nhiên, cần khẳng định, công nghệ có thể được chuyển giao, vốn có thể được huy động, thị trường có thể được mở rộng bằng các hiệp định; nhưng khả năng tiếp cận và hấp thụ những nguồn lực ấy lại phụ thuộc rất lớn vào vị thế, uy tín và chất lượng các mối quan hệ quốc tế. Một nền kinh tế chỉ thực sự có sức cạnh tranh khi có khả năng thu hút, giữ chân và chuyển hóa các nguồn lực bên ngoài thành năng lực phát triển bên trong. Đó là điểm gặp gỡ giữa đối ngoại nhân dân và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Cần phải nhìn nhận rằng, một doanh nghiệp nước ngoài rất quan tâm đến ưu đãi, nhưng họ chỉ quyết định triển khai các dự án đầu tư lâu dài khi tin vào môi trường hợp tác. Một chuyên gia có thể đến làm việc theo dự án, nhưng chỉ gắn bó lâu dài khi cảm nhận được sự tôn trọng và một không gian sống an toàn, cởi mở. Một du khách có thể bị thu hút bởi cảnh quan, nhưng quyết định quay lại thường được tạo nên bởi trải nghiệm với con người. Tất cả những lựa chọn ấy đều có một mẫu số chung: lòng tin - sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Rõ ràng, đây không còn là giá trị bổ trợ nằm bên ngoài hoạt động phát triển mà đã thực sự trở thành một loại vốn chiến lược. Quốc gia càng có uy tín, chi phí xây dựng quan hệ càng thấp; khả năng tiếp cận thị trường, công nghệ và mạng lưới tri thức càng cao. Quốc gia càng tạo được thiện cảm, thương hiệu, văn hóa và sản phẩm càng có cơ hội đi xa. Trong quá trình tích lũy loại vốn đặc biệt đó, đối ngoại nhân dân chiếm lĩnh vị trí ngày càng quan trọng.
Từ những cuộc gặp hữu nghị đến "hạ tầng mềm" cho phát triển
Giá trị truyền thống của đối ngoại nhân dân là vun đắp tình hữu nghị, tăng cường hiểu biết, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới. Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, những mối quan hệ nhân dân đã góp phần hình thành mặt trận quốc tế rộng lớn ủng hộ Việt Nam. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đối ngoại nhân dân tiếp tục mở những cánh cửa giao lưu, góp phần xóa bỏ định kiến, phá thế bao vây, mở rộng quan hệ và xây dựng nền tảng xã hội cho hội nhập quốc tế. Những giá trị ấy vẫn còn nguyên ý nghĩa. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở giao lưu và hữu nghị, đối ngoại nhân dân chưa khai thác hết tiềm năng trong giai đoạn phát triển mới. Yêu cầu hôm nay cao hơn: phải chuyển hiểu biết thành lòng tin, chuyển lòng tin thành quan hệ hợp tác và chuyển quan hệ hợp tác thành nguồn lực cụ thể cho phát triển đất nước.
Từ cách tiếp cận đó, đối ngoại nhân dân có thể được xem là một dạng "hạ tầng mềm" của quốc gia. Hạ tầng giao thông mở đường cho hàng hóa lưu chuyển. Hạ tầng số mở đường cho dữ liệu kết nối. Còn hạ tầng lòng tin mở đường cho vốn, công nghệ, tri thức, nhân lực và các sáng kiến hợp tác tìm đến. Đối ngoại nhân dân chỉ phát huy hết giá trị khi mỗi hoạt động không khép lại ở mục tiêu giao lưu, mà trở thành điểm khởi đầu của một chuỗi hợp tác lâu dài. Từ sự kết nối giữa các địa phương có thể mở ra không gian hợp tác về đầu tư, văn hóa và giáo dục; từ mạng lưới các trường đại học có thể hình thành các chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực; từ những mối quan hệ hữu nghị được bồi đắp qua thời gian có thể hình thành các cộng đồng đối tác sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong những vấn đề chung của khu vực và thế giới. Chính quá trình tích lũy các mối liên kết ấy mới tạo nên giá trị chiến lược của đối ngoại nhân dân.
Điểm đáng chú ý là những thành quả ấy không phải lúc nào cũng xuất hiện ngay sau một cuộc gặp. Chúng được tích lũy qua thời gian, qua sự nhất quán trong ứng xử và qua hàng loạt trải nghiệm hợp tác tích cực. Càng có nhiều kết nối thực chất, mạng lưới quan hệ của quốc gia càng rộng. Càng có nhiều đối tác tin cậy, chi phí mở một dự án mới, tìm một thị trường mới hay thiết lập một chương trình nghiên cứu mới càng giảm. Đó cũng là lý do mạng lưới đối ngoại nhân dân trở thành một lợi thế khó thay thế.
Có thể nhận thấy trên thực tế, không khó để tiếp cận nguồn vốn nếu một quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn. Công nghệ cũng có thể được tiếp nhận thông qua chuyển giao, mua bán hoặc hợp tác nghiên cứu. Ngay cả những mô hình quản trị tiên tiến cũng có thể được tham khảo và học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, có một nguồn lực không thể mua, không thể vay mượn và càng không thể hình thành trong thời gian ngắn: đó là mạng lưới quan hệ quốc tế được bồi đắp bằng lịch sử hợp tác, sự chân thành trong ứng xử, niềm tin được kiểm chứng và những lợi ích cùng vun đắp qua nhiều thế hệ. Như vậy, điều làm nên giá trị của đối ngoại nhân dân không nằm ở số lượng các cuộc gặp, số đoàn trao đổi hay số văn bản được ký kết. Giá trị thực sự nằm ở những quan hệ tiếp tục tồn tại sau khi sự kiện kết thúc; ở những con người tiếp tục kết nối, những dự án tiếp tục hình thành và những cơ hội phát triển tiếp tục được mở ra.
Từ đây, thước đo của đối ngoại nhân dân cũng phải thay đổi. Một chương trình giao lưu không chỉ được đánh giá bằng số người tham dự, mà bằng khả năng tạo ra mạng lưới hợp tác. Một hoạt động quảng bá không chỉ được tính bằng lượng thông tin phát đi, mà bằng mức độ công chúng quốc tế hiểu đúng, tin tưởng và chủ động tìm đến Việt Nam. Một quan hệ hữu nghị không chỉ dừng ở tình cảm, mà phải có khả năng mở ra các giá trị mới cho cả hai phía.
Sự tín nhiệm quốc tế không đến từ khẩu hiệu
Đối ngoại nhân dân có sức mạnh bởi được bồi đắp bằng sự thấu cảm, qua trải nghiệm thật và kiểm nghiệm bởi bề dày lịch sử. Hình ảnh quốc gia không chỉ được tạo dựng trong những tuyên bố ngoại giao hay các chiến dịch truyền thông. Hình ảnh ấy được hình thành từ cách một doanh nghiệp Việt Nam thực hiện cam kết, cách một cơ quan tiếp đón đối tác, cách một người dân ứng xử với du khách, chất lượng của một chương trình hợp tác, thái độ của một lưu học sinh và trách nhiệm của mỗi công dân khi hiện diện ở nước ngoài.
Một thông điệp được lặp lại nhiều lần có thể giúp thế giới biết đến Việt Nam. Nhưng để thế giới tin Việt Nam, cần những trải nghiệm nhất quán. Độ tin cậy của một quốc gia không được quyết định bởi việc quốc gia ấy tự nói về mình như thế nào, mà bởi điều các đối tác thực sự nhìn thấy, cảm nhận và kiểm chứng. Chính vì vậy, đối ngoại nhân dân không chỉ là hoạt động của các hội hữu nghị hay cơ quan chuyên trách. Mỗi doanh nghiệp giữ chữ tín đều đang góp phần làm đối ngoại. Mỗi nhà khoa học có công trình được quốc tế công nhận đều đang nâng uy tín đất nước. Mỗi vận động viên thi đấu trung thực, mỗi nghệ sĩ đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới, mỗi sinh viên thể hiện năng lực và trách nhiệm trong môi trường quốc tế đều trở thành một "điểm chạm" của hình ảnh quốc gia.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; đồng thời khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc[2]. Khi văn hóa và con người được xác định là nguồn lực nội sinh, giá trị ấy không dừng lại trong phạm vi đối nội. Văn hóa đi theo sản phẩm Việt Nam ra thế giới. Phẩm chất con người Việt Nam đi theo mỗi chuyên gia, doanh nhân, sinh viên và người lao động khi họ bước vào môi trường quốc tế. Cách một công dân hành xử có thể làm tăng thiện cảm với cả đất nước; ngược lại, một hành vi thiếu trách nhiệm cũng có thể làm tổn thương hình ảnh quốc gia nhanh hơn nhiều so với khả năng khắc phục của một chiến dịch truyền thông.
Đây là tính hai mặt của thời đại số. Một câu chuyện đẹp có thể lan tỏa qua biên giới trong vài giờ, nhưng một hình ảnh tiêu cực cũng có thể tạo ra hiệu ứng tương tự. Giữa hành vi cá nhân và hình ảnh quốc gia có mối liên hệ mật thiết. Mỗi người dân đều có thể trở thành một sứ giả; mỗi tài khoản mạng xã hội đều có thể trở thành một kênh truyền thông; mỗi cuộc tiếp xúc đều có thể làm dày thêm hoặc bào mòn vốn lòng tin của đất nước. Vì thế, xây dựng năng lực đối ngoại nhân dân không thể chỉ dừng ở việc tổ chức hoạt động. Đó còn là quá trình hình thành năng lực công dân toàn cầu, nâng cao văn hóa ứng xử, củng cố trách nhiệm xã hội và tạo ra những con người đủ bản lĩnh, tri thức, sự tự tin để đại diện cho hình ảnh Việt Nam trong mọi môi trường.
Một quốc gia có sức hấp dẫn thực sự khi những giá trị mà quốc gia tuyên bố được phản ánh trong đời sống; khi sự thân thiện không phải là khẩu hiệu du lịch, mà là trải nghiệm thật; khi tinh thần hợp tác không nằm trên văn bản, mà hiện diện trong cách xử lý công việc; khi chữ tín không chỉ là lời hứa, mà trở thành chuẩn mực ứng xử. Đó mới là lúc lòng tin được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.
Đối ngoại phải tạo "đường băng" cho các nguồn lực phát triển
Đại hội XIV đặt đối ngoại trong tổng thể những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đất nước: đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên, đồng thời gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế[3]. Điều đó cho thấy đối ngoại không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ môi trường hòa bình, mà phải trực tiếp tham gia kiến tạo điều kiện cho phát triển. Một khuôn khổ quan hệ chỉ thực sự có giá trị khi từ đó mở ra thị trường, dự án, công nghệ, tri thức và cơ hội hợp tác. Một mạng lưới đối tác chỉ trở thành nguồn lực khi nó có khả năng giải quyết những bài toán cụ thể của đất nước. Đối ngoại nhân dân càng phải vận động theo hướng ấy. Nếu một mạng lưới trí thức người Việt Nam ở nước ngoài giúp hình thành nhóm nghiên cứu về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay công nghệ sinh học, đó là năng lực cạnh tranh. Nếu một quan hệ hữu nghị giữa hai địa phương tạo ra chương trình đào tạo nhân lực, hợp tác quản trị đô thị hoặc chuyển đổi xanh, đó là năng lực cạnh tranh. Nếu cộng đồng doanh nhân kiều bào giúp hàng hóa Việt Nam tìm được thị trường mới, tham gia vào chuỗi cung ứng quốc tế, đó là năng lực cạnh tranh. Nếu điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực hay sản phẩm sáng tạo của Việt Nam khiến công chúng quốc tế muốn tìm hiểu đất nước, học tiếng Việt, đến Việt Nam du lịch và sử dụng thương hiệu Việt, đó cũng là năng lực cạnh tranh.
Như vậy, đối ngoại nhân dân không đứng ngoài nền kinh tế. Nó tạo lòng tin để hợp tác kinh tế diễn ra thuận lợi hơn; tạo mạng lưới để công nghệ và tri thức lưu chuyển nhanh hơn; tạo thiện cảm để thương hiệu, du lịch và văn hóa có sức lan tỏa mạnh hơn. Đó là quá trình biến những giá trị mềm thành kết quả phát triển cụ thể.
Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh"[4]. Nhưng công nghệ không tự đến chỉ vì một quốc gia có nhu cầu. Tri thức không tự dịch chuyển chỉ vì một địa phương đưa ra lời mời. Đằng sau mỗi dự án chuyển giao công nghệ, mỗi phòng thí nghiệm chung, mỗi chương trình đào tạo chất lượng cao đều là những con người biết nhau, hiểu nhau và đủ tin nhau để cùng chia sẻ nguồn lực.
Một nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài có thể kết nối đồng nghiệp quốc tế với cơ sở nghiên cứu trong nước. Một doanh nhân kiều bào có thể mở cánh cửa đưa doanh nghiệp Việt Nam vào mạng lưới cung ứng mới. Một cựu sinh viên từng học tập tại Việt Nam có thể trở thành người thúc đẩy hợp tác sau nhiều năm. Một tổ chức nhân dân có thể duy trì kênh đối thoại trong thời điểm quan hệ chính thức gặp trở ngại.
Giá trị của những mối quan hệ ấy không nằm ở danh bạ liên lạc, mà ở khả năng chuyển kết nối cá nhân thành năng lực hợp tác của tổ chức và quốc gia. Đây cũng là bước chuyển mà đối ngoại nhân dân phải thực hiện: từ tổ chức cuộc gặp sang quản trị quan hệ; từ mở rộng số lượng đối tác sang nâng cao chất lượng mạng lưới; từ truyền tải thông tin sang lắng nghe và đối thoại; từ tạo thiện cảm sang cùng kiến tạo giá trị.
Để Việt Nam không chỉ được biết đến, mà trở thành địa chỉ đáng tin cậy và lựa chọn
Sau hơn 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được một vị thế quốc tế mới. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; hội nhập quốc tế ngày càng sâu. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7)[5]. Hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định, năng động và có trách nhiệm được ghi nhận rộng rãi. Tuy nhiên, vị thế không phải đích đến cuối cùng. Vị thế chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.
Uy tín phải giúp doanh nghiệp Việt Nam dễ tiếp cận đối tác hơn. Thiện cảm với đất nước phải trở thành sức hút đối với du lịch, giáo dục, đầu tư và văn hóa. Mạng lưới bạn bè phải tạo thêm tiếng nói ủng hộ Việt Nam. Quan hệ hữu nghị phải mở ra những dòng chảy mới của tri thức, công nghệ, nguồn vốn và nhân lực. Đó là thước đo mới của đối ngoại nhân dân. Không chỉ là đã tổ chức bao nhiêu hoạt động, mà sau những hoạt động ấy, Việt Nam có thêm bao nhiêu người bạn thực sự. Không chỉ là đã ký bao nhiêu thỏa thuận, mà có bao nhiêu quan hệ tiếp tục phát triển thành dự án, chương trình và lợi ích chung. Không chỉ là đã phát đi bao nhiêu thông điệp, mà thế giới hiểu Việt Nam đến đâu, tin Việt Nam đến mức nào và sẵn sàng hợp tác với Việt Nam ra sao. Khi tạo được sự chuyển hóa ấy, đối ngoại nhân dân không còn là công việc "mềm" theo nghĩa phụ trợ. Nó trở thành nguồn lực mềm tạo ra kết quả cứng; trở thành "đường băng" để vốn, công nghệ, tri thức và cơ hội phát triển cất cánh; trở thành một cấu phần trực tiếp của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Như vậy, có thể khẳng định, sức mạnh của Việt Nam không chỉ được tạo nên bởi những điều đất nước đang sở hữu, mà còn bởi số lượng những người hiểu Việt Nam, tin Việt Nam và mong muốn đồng hành cùng Việt Nam. Và trong kỷ nguyên mới, đối ngoại nhân dân thể hiện vai trò mới: không chỉ nối những nhịp cầu hữu nghị, mà kiến tạo một lợi thế quốc gia.
ThS. Trương Thị Điệp
Phó Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 9.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 26.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 26 - 27.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 31.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 143 - 144.