
Lao động thời vụ có thêm cơ hội tiếp cận chính sách bảo hiểm thất nghiệp. (Ảnh minh họa)
Thêm một nhóm lao động được bảo vệ
Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm năm 2025 cùng các quy định hướng dẫn về BHTN mở rộng phạm vi tham gia đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ một tháng trở lên. Đây là thay đổi đáng chú ý trong quá trình mở rộng diện bao phủ của chính sách, nhất là với những người thường chỉ làm việc trong một khoảng thời gian nhất định.
Trên thực tế, tại các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp hay chế biến nông sản, nhu cầu sử dụng lao động thường thay đổi theo mùa vụ và chu kỳ sản xuất. Người lao động có thể làm việc trong vài tháng, sau đó chuyển sang một công việc khác hoặc chờ đợt sản xuất tiếp theo. Đặc điểm này khiến việc duy trì quá trình tham gia các chính sách bảo hiểm gặp nhiều khó khăn hơn so với lao động có việc làm ổn định.
Theo ông Trần Tuấn Tú, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Nội vụ), các quy định mới đã có những điều chỉnh linh hoạt hơn về việc đóng và hưởng BHTN, qua đó phù hợp hơn với đặc điểm việc làm và thu nhập của một số nhóm lao động có tính chất mùa vụ.
Đáng chú ý, người hưởng tiền lương theo sản phẩm hoặc theo khoán tại doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có thể đăng ký đóng BHTN theo tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng một lần. Cách thức này giúp việc tham gia bảo hiểm thích ứng tốt hơn với chu kỳ sản xuất và nguồn thu nhập của người lao động.
Đối với người làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ một tháng đến dưới 12 tháng, điều kiện về thời gian đóng để được xem xét hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng được quy định phù hợp với nhóm lao động này. Theo đó, người lao động phải có ít nhất 12 tháng đóng BHTN trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Một điểm có ý nghĩa đối với lao động thường xuyên thay đổi công việc là thời gian đóng BHTN không nhất thiết phải liên tục. Phần thời gian đã đóng nhưng chưa được sử dụng để hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu và cộng dồn theo quy định. Nhờ đó, việc chuyển từ hợp đồng này sang hợp đồng khác không đồng nghĩa với việc người lao động phải bắt đầu lại quá trình tích lũy.
Với những người làm việc theo mùa vụ, cơ chế này có thể tạo thêm sự chủ động khi thị trường việc làm biến động. Khi kết thúc một hợp đồng ngắn hạn, người lao động vừa có thể tiếp tục tìm kiếm công việc mới, vừa có thời gian tham gia BHTN được ghi nhận để sử dụng khi đủ điều kiện theo quy định.
Ranh giới với lao động tự do vẫn còn
Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN không đồng nghĩa toàn bộ lao động mùa vụ, nông dân hay ngư dân đều được tham gia chính sách này. Điểm mấu chốt vẫn nằm ở quan hệ lao động.
Một người nông dân tự sản xuất trên phần đất của gia đình hoặc ngư dân tự tổ chức hoạt động khai thác thủy sản không thuộc diện tham gia BHTN nếu không có quan hệ lao động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Ngược lại, nếu họ làm thuê cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh hoặc người sử dụng lao động khác và ký hợp đồng lao động từ đủ một tháng trở lên, họ có thể thuộc diện tham gia theo quy định.
Sự khác biệt này cho thấy việc mở rộng BHTN hiện mới tập trung vào nhóm lao động ngắn hạn có quan hệ lao động, trong khi một bộ phận lớn lao động tự làm, lao động tự do vẫn chưa nằm trong phạm vi của chính sách.
Đây cũng là vấn đề được đặt ra khi cơ cấu việc làm ngày càng đa dạng. Với những người không có hợp đồng lao động, thu nhập thường phụ thuộc trực tiếp vào số ngày làm việc, mùa vụ hoặc tình hình sản xuất, kinh doanh. Khi nguồn việc bị gián đoạn, họ ít có cơ chế bảo vệ thu nhập tương tự người lao động đang tham gia BHTN.
Bà Vũ Thị Minh Thu, Viện Khoa học Tổ chức và lao động (Bộ Nội vụ), cho rằng việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN là một bước tiến trong việc tăng khả năng tiếp cận chính sách đối với nhóm lao động có việc làm thiếu ổn định. Tuy nhiên, về lâu dài cần tiếp tục nghiên cứu phương án mở rộng phạm vi bảo vệ đối với lao động tự do không có hợp đồng lao động.
Theo bà Vũ Thị Minh Thu, lao động tự do ở khu vực nông thôn và những người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. Một trong những hướng có thể nghiên cứu là xây dựng cơ chế tham gia BHTN tự nguyện, tương tự cách tiếp cận của BHXH tự nguyện, để những người chưa có quan hệ lao động chính thức vẫn có thêm lựa chọn bảo vệ khi mất nguồn việc.
Nếu được nghiên cứu và thiết kế phù hợp, hướng này không chỉ liên quan đến khoản trợ cấp khi thất nghiệp. BHTN còn gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và nâng cao kỹ năng nghề, những yếu tố có vai trò quan trọng trong quá trình giúp người lao động quay trở lại thị trường việc làm.
Mở rộng độ bao phủ gắn với chính thức hóa việc làm
Từ góc độ chính sách, việc đưa hợp đồng lao động từ đủ một tháng vào phạm vi tham gia BHTN cũng cho thấy yêu cầu thích ứng của hệ thống an sinh trước sự thay đổi của thị trường lao động.
Đối với người lao động, quyền lợi BHTN gắn với hợp đồng có thể tạo thêm động lực để quan hệ làm việc được xác lập rõ ràng, thay vì chỉ thỏa thuận bằng hình thức không chính thức. Với người sử dụng lao động, việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm về bảo hiểm cũng góp phần bảo đảm quyền lợi cho người làm việc trong những vị trí có thời gian sử dụng lao động ngắn.
Trong bối cảnh việc làm mùa vụ và việc làm ngắn hạn vẫn tồn tại ở nhiều ngành nghề, mở rộng diện tham gia BHTN là một bước để chính sách tiếp cận sát hơn với thực tế thị trường lao động. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh, việc tiếp tục nghiên cứu cơ chế phù hợp cho lao động tự do, tự làm cũng là vấn đề cần được tính đến trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Từ nhóm lao động có hợp đồng ngắn hạn đến những người hoàn toàn tự do, thị trường lao động đang đặt ra nhiều dạng việc làm khác nhau. Việc mở rộng BHTN từ năm 2026 giúp thêm một bộ phận lao động có việc làm thiếu ổn định được tiếp cận chính sách, đồng thời cho thấy hướng đi tiếp theo là từng bước mở rộng độ bao phủ nhưng vẫn phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm việc làm, khả năng đóng góp và nhu cầu an sinh của từng nhóm lao động.
Đoàn Văn