Luật Phát triển đô thị: “Bệ phóng” mở không gian phát triển cho Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống đô thị cả nước

Thứ sáu, 28/08/2026 - 14:18

Ngày 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI chính thức xem xét, biểu quyết thông qua Luật Phát triển đô thị. Đây được kỳ vọng là bước ngoặt quan trọng về thể chế, không chỉ tạo thêm dư địa phát triển cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở rộng phân cấp, phân quyền, khơi thông nguồn lực và hình thành không gian phát triển mới cho hệ thống đô thị trên cả nước.

Luật Phát triển đô thị: “Bệ phóng” mở không gian phát triển cho Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống đô thị cả nước - Ảnh 1.

Theo đồng chí Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, tinh thần cốt lõi của luật là tạo một "bệ phóng" để thành phố khai thác tối đa tiềm năng, tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu kinh tế và đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển chung của đất nước.

Từ cơ chế đặc thù đến tư duy phát triển đô thị mới

Quá trình hình thành Luật Phát triển đô thị gắn với sự chủ động của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tìm kiếm một khuôn khổ pháp lý phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Ngay từ tháng 3-2026, Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Ban Chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị. Mục tiêu đặt ra là xây dựng một khuôn khổ pháp lý ổn định, lâu dài, có tính hệ thống, từng bước thay thế cách tiếp cận dựa nhiều vào các cơ chế thí điểm.

Đến tháng 7-2026, Bộ Chính trị thống nhất đổi tên dự án luật thành Luật Phát triển đô thị. Sự thay đổi về tên gọi không đơn thuần là điều chỉnh kỹ thuật lập pháp, mà phản ánh sự chuyển hướng về tư duy chính sách.

Luật Phát triển đô thị: “Bệ phóng” mở không gian phát triển cho Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống đô thị cả nước - Ảnh 2.

Nếu cơ chế đặc thù trước đây chủ yếu nhằm giải quyết những vấn đề riêng của một đô thị lớn thì Luật Phát triển đô thị được đặt trong tầm nhìn rộng hơn: xây dựng mô hình quản trị và phát triển có thể tạo sức lan tỏa cho nhiều đô thị, vùng kinh tế và các cực tăng trưởng của cả nước.

Theo tinh thần đó, những cơ chế quản trị hiện đại có thể trở thành nguồn tham khảo, tiền đề để các đô thị có đủ điều kiện như Hải Phòng, Đồng Nai, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Quảng Ninh, Bắc Ninh… chủ động khai thác lợi thế, tạo động lực tăng trưởng mới.

Đây chính là điểm đáng chú ý của luật: từ "thí điểm" chuyển sang "khai phóng", từ giải quyết một địa bàn cụ thể hướng tới hoàn thiện thể chế phát triển đô thị trên phạm vi rộng.

Trao quyền để địa phương chủ động quyết định

Một trong những nền tảng quan trọng của Luật Phát triển đô thị là phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

Theo định hướng được đặt ra, khoảng 240 nội dung được phân cấp cho HĐND, UBND và Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh quy định chi tiết. Đây là dư địa rất lớn để chính quyền thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, thay vì phải chờ đợi nhiều tầng nấc quyết định.

Luật Phát triển đô thị: “Bệ phóng” mở không gian phát triển cho Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống đô thị cả nước - Ảnh 3.

Trong quản trị đô thị hiện đại, tốc độ ra quyết định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một quy hoạch chậm được triển khai, một dự án kéo dài thủ tục hay một nguồn lực bị "đóng băng" trong thời gian dài đều có thể làm mất cơ hội phát triển.

Vì vậy, phân cấp, phân quyền không chỉ nhằm rút ngắn quy trình hành chính mà sâu xa hơn là tạo ra một phương thức quản trị linh hoạt, sát thực tiễn và có khả năng phản ứng nhanh trước những biến động của nền kinh tế.

Tuy nhiên, trao quyền lớn hơn cũng đồng nghĩa với trách nhiệm lớn hơn. Thành phố xác định rõ việc tiếp nhận thêm thẩm quyền phải đi cùng cơ chế kiểm soát quyền lực, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Mô hình quản trị được đặt theo nguyên tắc "có van, có khóa": tiền kiểm thông qua đánh giá tác động chính sách toàn diện; hậu kiểm bằng công khai thông tin, tăng cường giám sát và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.

Thành phố cũng đang hướng tới xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị và phân cấp, công khai định kỳ để người dân, doanh nghiệp và các cơ quan có thẩm quyền cùng theo dõi, giám sát.

Điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung với những hành vi vi phạm pháp luật hoặc lợi dụng cơ chế để trục lợi. Khi ranh giới này được xác lập rõ ràng, cán bộ có thêm hành lang pháp lý để hành động, còn quyền lực được đặt trong khuôn khổ kiểm soát cần thiết.

TPHCM tiên phong mở đường cho vùng và cả nước

Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, việc tạo lập một không gian thể chế mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Sáu tháng đầu năm 2026, thành phố đạt mức tăng trưởng GRDP 8,55%, mức cao nhất trong một thập kỷ qua. Kết quả này tạo nền tảng tích cực, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị và cách thức huy động nguồn lực.

Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo điều kiện để Thành phố Hồ Chí Minh đi trước trong nhiều mô hình phát triển mới.

Trước hết là phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng theo mô hình TOD, khai thác hiệu quả giá trị đất đai và không gian đô thị quanh các tuyến giao thông chiến lược. Cùng với đó là tối ưu hóa không gian ngầm, không gian tầm thấp, tạo thêm dư địa cho một đô thị có mật độ dân cư và nhu cầu hạ tầng ngày càng cao.

Ở lĩnh vực kinh tế, thành phố có điều kiện thúc đẩy các mô hình mới như Trung tâm Tài chính Quốc tế, Khu Thương mại tự do, hệ thống logistics tích hợp và các phương thức hợp tác công - tư thế hệ mới.

Đặc biệt, bài toán chuyển hóa nguồn lực từ đất đai và hạ tầng thành nguồn vốn tái đầu tư có thể tạo ra vòng tuần hoàn mới cho phát triển đô thị. Khi giá trị gia tăng do hạ tầng tạo ra được khai thác hợp lý, thành phố có thể từng bước giảm áp lực phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Đây cũng là cách để hạ tầng không chỉ là khoản chi mà trở thành một động lực tạo nguồn lực cho những công trình tiếp theo.

Sự tiên phong của Thành phố Hồ Chí Minh vì thế không nên được nhìn nhận như lợi thế riêng của một địa phương. Những mô hình hiệu quả nếu được kiểm chứng trong thực tiễn sẽ có thể được nhân rộng, tạo hiệu ứng lan tỏa đến các tỉnh, thành phố trong vùng và góp phần hình thành những chuỗi liên kết kinh tế - đô thị có quy mô lớn hơn.

Thước đo cuối cùng là người dân và doanh nghiệp

Một đạo luật dù có phạm vi điều chỉnh rộng đến đâu cũng chỉ thực sự phát huy giá trị khi tạo ra những thay đổi cụ thể trong đời sống.

Đối với người dân Thành phố Hồ Chí Minh, hiệu quả của Luật Phát triển đô thị trước hết phải được thể hiện bằng những tuyến đường thuận tiện hơn, hệ thống giao thông đồng bộ hơn, không gian công cộng tốt hơn và chất lượng môi trường sống được cải thiện.

Đó còn là việc chỉnh trang các khu chung cư cũ, từng bước giải quyết nhà ở ven kênh rạch, bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy, nâng cao trật tự xây dựng và chất lượng các dịch vụ đô thị.

Đối với doanh nghiệp, giá trị của luật được đo bằng việc giảm tầng nấc thủ tục, rút ngắn thời gian thẩm định và triển khai dự án, tăng tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư.

Khi thủ tục được cải cách, quyền hạn được phân định rõ và trách nhiệm được xác lập cụ thể, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin để đầu tư dài hạn. Thành phố cũng có thêm khả năng thu hút các nguồn lực xã hội phục vụ phát triển.

Đối với đội ngũ cán bộ, một hành lang pháp lý rõ ràng sẽ góp phần khuyến khích đổi mới sáng tạo, khắc phục tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, đồng thời bảo đảm mọi quyết định đều phải hướng tới lợi ích chung và chịu sự giám sát cần thiết.

Ba cam kết để luật nhanh chóng đi vào cuộc sống

Không chờ đến khi luật chính thức phát huy đầy đủ hiệu lực, Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động chuẩn bị các điều kiện thực thi. Thành phố thành lập tổ chỉ đạo triển khai, huy động đội ngũ chuyên gia rà soát hệ thống văn bản, chuẩn bị các quy định thuộc thẩm quyền để có thể triển khai ngay khi luật có hiệu lực.

Trước Trung ương và Nhân dân, thành phố đặt ra ba cam kết trọng tâm.

Thứ nhất là cam kết tăng trưởng: phát triển nhanh nhưng bền vững, phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số, đồng thời gia tăng đóng góp cho ngân sách quốc gia và vùng kinh tế.

Thứ hai là cam kết trách nhiệm: bảo đảm minh bạch trong quản lý, thực hiện nghiêm trách nhiệm giải trình, kiểm soát chặt chẽ việc thực thi các cơ chế mới và đánh giá bằng kết quả thực tế.

Thứ ba là cam kết hành động: đưa các chính sách mới nhanh chóng đi vào cuộc sống, biến những quy định của luật thành các công trình, dự án, dịch vụ và giá trị cụ thể cho người dân, doanh nghiệp.

Luật Phát triển đô thị vì vậy không chỉ là thêm một đạo luật trong hệ thống pháp luật. Quan trọng hơn, đây là sự chuyển động về tư duy phát triển: từ quản lý sang kiến tạo, từ xin - cho sang phân cấp gắn với trách nhiệm, từ khai thác đơn lẻ sang liên kết vùng và từ phụ thuộc vào nguồn lực công sang huy động, chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực xã hội.

Với sự đồng thuận từ Trung ương, cùng quyết tâm chính trị và tinh thần chủ động của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, luật được kỳ vọng trở thành một "bệ phóng" mới cho thành phố bứt phá. Xa hơn, những cơ chế được kiểm chứng từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh có thể góp phần mở rộng không gian phát triển cho các đô thị, các vùng kinh tế và những cực tăng trưởng mới, qua đó tạo thêm động lực đưa Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển đô thị hiện đại, năng động và bền vững hơn.

Tấn Tài