Mai Sơn (Sơn La): Ứng dụng khoa học công nghệ vào nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp

Thứ bảy, 24/06/2017 - 11:51

TNV - Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa các mô hình sản xuất để phát triển các sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh ở từng vùng, trải đều các mùa trong năm là chủ trương nhất quán của Huyện ủy và chính quyền huyện Mai Sơn.

Đa dạng hóa mô hình, trải đều các mùa trong năm

Huyện Mai Sơn có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ của Thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La), giao thông khá thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa, có điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú, nhiều cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, chế biến lớn của tỉnh và Trung ương đóng trên địa bàn.

Những năm vừa qua, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được triển khai rộng rãi, nhiều mô hình hiệu quả kinh tế cao được nhân rộng làm cho diện mạo nông nghiệp của huyện từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường; trình độ sản xuất được nâng lên, nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trồng nhãn ghép chín muộn ở xã Chiềng Mung. Ảnh: PNN

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 41.735 ha, trong đó: Lúa chiêm xuân 1.115 ha, đạt 102,8% KH, năng suất bình quân đạt 6,3 tấn /ha; lúa mùa 1.605 ha; lúa nương 3.560 ha;  ngô xuân hè 20.500 ha, năng suất bình quân đạt 7,4 tấn /ha; cây chất bột có củ 3.643 ha; rau đậu các loại 1.375 ha; các loại cây trồng khác 356 ha.

Đồng thời, duy trì ổn định các loại cây công nghiệp chủ lực như mía 4.905 ha, đạt 105,4% KH, sản lượng ước đạt 350 nghìn tấn; cà phê 3.954 ha, đạt 107,2% KH; cao su 339 ha. Đặc biệt, diện tích cây ăn quả đã nhanh chóng phát triển, với khoảng 1.395 ha và sản lượng đạt chừng 3.348 tấn/năm; năng suất, chất lượng vườn cây quả đã được nâng lên nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ: Ghép (ghép nhãn chín muộn, thay thế một số cây ăn quả kém hiệu quả bằng giống xoài Úc, Thái lan, na dai), chọn lọc giống, chăm sóc, tưới ẩm, tưới nhỏ giọt,..

Trong 5 năm qua, huyện Mai Sơn đã tổ chức triển khai chỉ đạo, thực hiện 268 mô hình; cụ thể, chăn nuôi gia súc, gia cầm 111 mô hình, trồng trọt 141 mô hình, nông lâm kết hợp 2 mô hình, thủy sản 14 mô hình. Hiệu quả kinh tế – xã hội của các mô hình này đều khởi nguồn từ việc ứng dụng khoa học công nghệ, tạo niềm tin để bà con nông dân yên tâm sản xuất; góp phần nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản, nâng cao giá trị, thu nhập cho người sản xuất và đảm bảo cho các sản phẩm nông nghiệp của huyện Mai Sơn có chỗ đứng bền vững trong lòng người tiêu dùng.

Áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi lợn qui mô lớn ở xã Cò Nòi. Ảnh: PNN

Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa các mô hình sản xuất để phát triển các sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh ở từng vùng, trải đều các mùa trong năm là chủ trương nhất quán của Huyện ủy và chính quyền huyện Mai Sơn – bà Đinh Thị Bích Thảo (Bí thư huyện ủy Mai Sơn) khẳng định.

Theo đó, UBND huyện Mai Sơn đã chỉ đạo việc chuyển đổi cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ và biện pháp canh tác theo hướng thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất, chất lượng cây trồng; thích ứng với biến đổi khí hậu, sâu bệnh và nâng cao giá trị sản xuất, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, an toàn, giá trị kinh tế cao; các biện pháp canh tác bền vững, thân thiện với môi trường, tập trung chuyển giao các giống mới, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác đồng bộ theo hướng thâm canh, sản xuất theo VietGAP.

Một số mô hình điển hình

- Mô hình chuyển đổi cây lương thực trên đất dốc kém hiệu sang cây trồng khác thực hiện tại địa bàn xã Chiềng Sung: UBND xã đã liên kết với doanh nghiệp, bao tiêu sản phẩm, ổn định đầu ra nhân dân. Do vậy, bà con đã mạnh dạn chuyển đổi 100 ha trồng ngô kém hiệu quả sang trồng bí; kết quả vụ mùa năm 2016 gieo trồng 100 ha bí, năng suất đạt 20 tấn/ha (tăng 5 tấn so năm 2015), giá bán 4.000 đồng/1kg (tăng 500 đồng so với trồng ngô). Doanh thu tăng từ 50 triệu (năm 2015) đến 70 triệu (năm 2016), trừ chi phí, thu nhập của người dân đạt từ 40 đến 50 triệu đồng; hiện nay con đang canh tác vụ 2, cây bí phát triển tốt, đậu quả sai, bắt đầu cho thu hoạch.

- Mô hình trồng thâm canh na dai: Tổng diện tích 93 ha, với trên 100 hộ thực hiện tại (thị trấn Hát Lót và xã Cò Nòi). Năng suất từ 10-15 tấn/ ha; tổng thu nhập khoảng 300-350 triệu/ha.

- Mô hình cải tạo vườn nhãn: Tổng diện tích 527 ha tại thị trấn Hát Lót, các xã Cò Nòi, Hát Lót, Chiềng Mung, Nà Bó, Mường Bon… Hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa. Năng suất bình quân 36 - 40 tấn quả tươi, thu nhập đạt từ  550 – 650 triệu/ha.

Vườn xoài ghép cho thu 400 – 500 triệu đồng mỗi năm của thanh niên Trịnh Hồng Quân, ở bản Nông Xoom, xã Hát Lót. Ảnh: Tuấn Anh

- Mô hình ghép cải tạo vườn xoài: Tổng diện tích 174,2 ha tại các xã: Hát Lót, Chiềng Mung, Cò Nòi, Mường Bon, thị Trấn Hát Lót,… cho bình quân từ 500 – 700 triệu/ha.

- Mô hình trồng cam, bưởi Diễn: Tổng diện tích 26,3 ha tại xã Chiềng Ban, Hát Lót, Cò Nòi, Chiềng Mung; cam cho thu nhập từ  850 – 950 triệu/ha, bưởi Diễn thu bình quân  500 –  600 triệu đồng/ha.

- Trồng thâm canh tổng hợp cho cây mía phục vụ chế biến đường công nghiệp: Qui mô 30 ha, 74 hộ tham gia; thực hiện tại 4 xã: Hát Lót, Cò Nòi, Chiềng Lương, Nà Bó. Mô hình áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp từ khâu làm đất, chọn giống, bón phân cân đối và sử dụng phân hữu cơ góp phần giảm chi phí sản xuất, cải tạo đất, tăng hiệu quả sử dụng phân hoá học, năng suất cao hơn so với sản xuất đại trà 25 – 30 tấn/ha. Mô hình tưới ẩm cho mía tại bản Ý Lường, xã Chiềng Lương quy mô 5 ha, giàn tưới đang đưa vào vận hành tốt. Năng suất ước đạt 126 tấn/ha, cao hơn so với sản xuất không có hệ thống tưới ẩm 25 – 30 %.

- Canh tác ngô bền vững trên đất dốc có vật liệu che phủ: Qui mô 60 ha, 49 hộ tham gia, thực hiện tại xã Chiềng Lương. Sử dụng vật liệu che phủ (cỏ, rác) hạn chế được xói mòn rửa trôi, tăng độ phì nhiêu cho đất. Ngô phát triển tốt, năng suất trung bình đạt 7,5 –  8 tấn/ha.

Trồng rau theo công nghệ tưới ẩm xã Mường Bon. Ảnh: PNN

- Mô hình hỗ trợ chuỗi sản xuất, tiêu thu rau an toàn theo hướng Vietgap: Quy mô 6,8 ha với 26 hộ tham gia tại bản Mai Tiên xã Mường Bon, kết quả đến nay đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho HTX Tiên Sơn bản Mai Tiên, xã Mường Bon. Dự kiến mỗi năm cung ứng ra thị trường 182 tấn rau các loại. Mô hình sẽ triển khai nhân rộng ra các vùng rau quy hoạch trên địa bàn toàn huyện giai đoạn 2016-2020.

- Hướng dẫn 07 hộ triển khai mô hình thí điểm áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt trên cây cà phê, cây ăn quả: Quy mô 7,65 ha tại xã Chiềng Ban; cây cà phê và cây ăn quả có ưu điểm vượt trội, bộ lá phát triển mạnh (không bị rụng, úa vàng do đợt nắng hạn vừa qua); không có sâu bệnh hại; tỷ lệ ra hoa, đậu quả cao hơn, trọng lượng quả tươi /1.000 quả cao hơn so với năm trước và vườn đối chứng khoảng 35%-50%; chi phí đầu tư cho các khâu lao động, chăm sóc, tưới, làm cỏ, bảo vệ thực vật,  thu hoạch và phân bón giảm từ 15% - 20% so với phương pháp thâm canh truyền thống.

- Triển khai mô hình nông lâm kết hợp: Thực hiện tại bản Nà Ban, xã Hát Lót, quy mô 50 ha; 35 hộ tham gia trồng cây ăn quả: Xoài, nhãn, mận, bưởi, chanh phát triển tốt, tỉ lệ sống trên 75%. Trồng cỏ theo đường đồng mức và làm đường băng chống xói mòn đất.

Về chăn nuôi: Chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi phân tán, quảng canh sang chăn nuôi trang trại, với quy mô phù hợp. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về dinh dưỡng thức ăn, phòng trừ dịch bệnh, đảm bảo các yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về cải tạo giống, áp dụng các giống vật nuôi chất lượng cao. Một số mô hình điển hình như:

- Chương trình cải tạo đàn bò địa phương: Phối thụ tinh nhân tạo được 280 con bò cái có chửa, góp phần cải tạo tầm vóc đàn bò địa phương.

Nuôi bò nhốt chuồng ở xã Chiềng Ban. Ảnh: PNN

- Áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo kết hợp với thú y cộng đồng nhằm phát triển chăn nuôi lợn theo hướng ViệtGAP trong nông hộ: Thực hiện tại bản Mai Tiên xã Chiềng Ban, qui mô 01 mô hình, 2 con lợn đực cho 1 hộ, 90 hộ tham gia; hướng dẫn nông dân nuôi dưỡng, chăm sóc và cách khai thác tinh lợn đực. Đến nay đã khai thác 2.466 liều tinh, phối được cho 1.209 con lợn nái có chửa, cải tạo chất lượng lợn thịt trong địa bàn.

- Mô hình chăn nuôi tập trung, an toàn bền vững: Qui mô 1 mô hình tại bản Tân Quỳnh xã Cò Nòi, 30 hộ tham gia. Bà con đã xây dựng quy chế thú y cộng đồng, thống nhất các quy định trong chăn nuôi. Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn nông dân chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh cho gia súc gia cầm, thực hiện tốt công tác tiêm phòng một số dịch bệnh cho đàn vật nuôi, xử lý chất thải không làm ô nhiễm môi trường.

Gà đẻ trứng công nghệ cao tại Tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót. Ảnh: PNN

- Mô hình phát triển chăn nuôi gà trên nền đệm lót sinh học: Thực hiện tại thị trấn Hát Lót với 15 hộ tham gia; quy mô nuôi trên 50 con gà/hộ. Sử dụng men BalasaN o 1 ủ làm đệm lót sinh học giúp phân hủy phân gia cầm thải ra, giảm mùi hôi, khí độc trong chuồng, cải thiện môi trường, giảm công lao động, tỷ lệ bệnh, chi phí, tăng chất lượng thành phẩm. Đàn gà nhìn chung thích nghi với nền đệm lót, sinh trưởng phát triển bình thường: tỷ lệ nuôi sống đạt 100%, tăng trọng bình quân đạt yêu cầu đề ra.

- Mô hình chăn nuôi trâu bò kết hợp trồng cỏ: Qui mô 8 con trâu, bò trở lên, có 76 hộ tham gia (trong đó có 2 hộ qui mô 20 con trở lên) kết hợp với trồng cỏ bằng hệ thống tưới ẩm.

- Mô hình nuôi cá ao, nuôi cá ruộng: Qui mô 20,8 ha, 41 hộ tham gia, tại các xã: Mường Bon, Hát Lót, Mường Bằng, Chiềng Sung, Chiềng Kheo. Cá phát triển tốt, không có dịch bệnh xảy ra. Mô hình đã nâng cao nhận thức, tạo thêm nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho nông dân. Đến nay, mô hình đã được nhân rộng ra thêm 22 hộ với hơn 5 ha…

Xây dựng trại sản xuất cây, con giống; hỗ trợ bà con thành lập các hợp tác xã, hội sản xuất kinh doanh

Nhưng, do địa hình khó khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, dẫn đến việc triển khai thực hiện các mô hình còn gặp phải một số rủi ro; phong tục tập quán sản xuất lạc hậu của nhân dân và khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất của nhân dân còn hạn chế, nên khó triển khai thực hiện các mô hình yêu cầu kỹ thuật và trình độ thâm canh cao; đồng thời giá cả giống, vật tư đặc biệt là giá nông sản, thị trường tiêu thụ thường xuyên biến động, tăng giảm thất thường gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện và nhân rộng các mô hình. Ông Cầm Văn Thắng (Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Sơn) cho biết.

Vườn ươm gống. Ảnh: PNN

Theo ông Trần Đắc Thắng (Chủ tịch UBND huyện Mai Sơn), trong thời gian đến huyện Mai Sơn sẽ đẩy mạnh tập huấn chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới vào từng lĩnh vực sản xuất cho bà con nông dân; đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật gieo ươm, trồng, chăm sóc, thâm canh, thu hái, bảo quản… cho nhân dân. Đồng thời, xây dựng trại sản xuất, cung cấp cây giống quy mô 01 triệu cây giống các loại/năm, vật nuôi quy mô 300 ngàn con giống các loại/năm, để chủ động nhu cầu và chất lượng về cây giống, vật nuôi trên địa bàn và trong tỉnh.

Đặc biệt, khuyến khích và hỗ trợ bà con thành lập các hợp tác xã, hội sản xuất kinh doanh để hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp và là đầu mối để tiếp nhận sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước; xây dựng tên gọi, xuất xứ hàng hóa tiến tới xây dựng thương hiệu sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương trên thị trường.

Phạm Quỳnh