Một số giải pháp nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở Đảng trong Đảng bộ Quân đội hiện nay

Thứ năm, 29/10/2026 - 08:00

Tóm tắt: Tổ chức cơ sở đảng là một bộ phận trong hệ thống tổ chức của Đảng trong Quân đội, là tổ chức lãnh đạo của Đảng ở đơn vị cơ sở, có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định đến chất lượng xây dựng đơn vị và kết quả hoàn thành các nhiệm vụ được giao, vấn đề này đã được Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ: “tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”.

Sẽ không thể xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu" nếu tổ chức cơ sở đảng ở đó không trong sạch, vững mạnh, năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng hạn chế, đội ngũ đảng viên yếu kém. Vì vậy, nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng nói chung và tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội nói riêng trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề vừa cấp thiết, vừa mang tính cơ bản lâu dài trong tình hình mới hiện nay.

Summary: The grassroots party organization is a component of the Party's organizational system within the Military, serving as the Party's leadership body at the grassroots unit. It plays an exceptionally important role in determining the quality of unit building and the successful execution of assigned tasks. This matter is explicitly defined in the Charter of the Communist Party of Vietnam: grassroots party organizations (grassroots cells and grassroots party committees) are the foundation of the Party and the political core at the grassroots level. It is impossible to build a comprehensively strong, exemplary, and typical grassroots unit if its party organization is not clean and strong, if its capacity to formulate and implement resolutions is limited, and if its contingent of party members is weak. Therefore, enhancing the capacity to formulate and implement resolutions of grassroots party organizations in general, and those within the Military Party Committee in particular, is truly both an urgent and a fundamental, long-term task in the current new situation.

Từ khóa: Tổ chức cơ sở đảng; chất lượng xây dựng đơn vị; Đảng bộ Quân đội.

1. Đặt vấn đề

Năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng là khả năng nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên sát với tình hình, nhiệm vụ của cơ sở; là trình độ nhận thức và năng lực thực tiễn để đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, tuyên truyền vận động quần chúng tổ chức thực hiện và kiểm tra nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết; có tinh thần đoàn kết, thống nhất, ý chí phấn đấu vươn lên, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện sai trái, tiêu cực trong tổ chức đảng và đơn vị, ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của đời sống xã hội, chống lại sự phá hoại của kẻ thù, giữ vững trận địa chính trị của Đảng ở cơ sở; bảo đảm cho tổ chức cơ sở đảng luôn trong sạch, vững mạnh, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, của Ban chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; trực tiếp là Quân ủy Trung ương, của đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở, đồng thời là kết quả xây dựng và rèn luyện về mọi mặt của từng tổ chức cơ sở đảng đó.

Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đòi hỏi Đảng phải ngang tầm để lãnh đạo cách mạng thắng lợi, phải nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của cả hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có tổ chức cơ sở đảng trong quân đội là một tất yếu khách quan, là một yêu cầu rất quan trọng, là nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, được xuất phát từ những vấn đề cơ bản sau:

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Học thuyết Mác - Lênin về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã khẳng định: Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là một tổ chức thống nhất về chính trị tư tưởng, có tổ chức chặt chẽ ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở, được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Các tổ chức đảng trong quá trình phát triển là một trong những khâu quan trọng trong hệ thống tổ chức và trong thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Với vị trí và vai trò là nền tảng của Đảng, các tổ chức cơ sở đảng có quan hệ hữu cơ với các phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và của thời đại. C.Mác - Ph.Ăngghen ngay từ buổi đầu đề xuất tư tưởng xây dựng, chỉnh đốn Đảng công nhân đã sáng suốt đề ra việc xây dựng hệ thống tổ chức từ dưới lên trên, từ chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ đến Ban Chấp hành Trung ương, tại Đại hội Liên đoàn những người cộng sản, hai Ông chỉ rõ: "tổ chức cơ sở đảng tức chi bộ nên trở thành trung tâm hạt nhân trong công tác đoàn và cũng như trong các tổ chức quần chúng xã hội khác" [1, tr.386], và "phải biến mỗi chi bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân" [2, tr.348]. Kế thừa và phát triển các quan điểm của C.Mác-Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã sáng tạo ra hình thức mới chính đảng của giai cấp công nhân. Người đã căn cứ vào điều kiện lịch sử đương thời của nước Nga mà nhấn mạnh thêm một bước về vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng: Điều quan trọng hơn là các chi bộ địa phương, đặc biệt là chi bộ đảng của nhà máy và những phần tử tiên tiến trong đó là công nhân có mối liên hệ trực tiếp với quần chúng, chính là cơ sở, hạt nhân vững chắc làm chỗ dựa không gì lay chuyển được cho phong trào cách mạng công nhân dân chủ xã hội, Người viết: "Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ đó mà rèn luyện mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống" [1, tr232-233.]. Quán triệt và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm tới việc xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng, trước hết là các chi bộ vững mạnh và việc giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực lãnh đạo quần chúng. Bác chỉ rõ: "Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt" [1, tr.210] và "Muốn xây dựng Đảng tốt thì phải có Đảng tốt, chi bộ tốt, muốn có đảng bộ tốt, chi bộ tốt phải có đảng viên tốt". Người căn dặn: Việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng có ý nghĩa mấu chốt quyết định thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng.

Đảng ta từ khi ra đời cho đến nay đã thường xuyên quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở đảng của mình vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ qua từng giai đoạn của cách mạng. Chính vì thế đã lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng lên một tầm cao mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, đó là tổ chức lãnh đạo của Đảng ở đơn vị cơ sở, trong hệ thống tổ chức của Đảng, tổ chức cơ sở đảng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, điều này đã được khẳng định, nhấn mạnh và nhắc đi, nhắc lại nêu trong Điều lệ Đảng tại các kỳ Đại hội.

3. Thực trạng năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội hiện nay.

3.1 Những ưu điểm

Nhìn chung các cấp uỷ và đại đa số đảng viên đã có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo và công tác triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết, thường xuyên giữ vững nền nếp chế độ sinh hoạt.

Công tác chuẩn bị nội dung sinh hoạt ở các cấp uỷ khá chu đáo, lựa chọn hình thức sinh hoạt phù hợp, tổ chức sinh hoạt có chất lượng.

Đại đa số đảng viên trong tham gia sinh hoạt đã nêu cao được ý thức trách nhiệm, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết xây dựng nghị quyết lãnh đạo.

3.2. Những hạn chế

Tuy nhiên, vẫn còn một số tổ chức cơ sở đảng và một số đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết ở các tổ chức cơ sở đảng.

Việc kết hợp các hình thức sinh hoạt chưa khoa học, công tác chuẩn bị sinh hoạt của cấp uỷ (bí thư) ở một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế nhất là sinh hoạt học tập.

Năng lực của một số cấp uỷ (bí thư) trong tổ chức và duy trì nền nếp sinh hoạt còn hạn chế.

Trong tham gia sinh hoạt một số đảng viên chưa phát huy hết trách nhiệm.

4. Giải pháp nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội hiện nay

4.1. Củng cố chi bộ, cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh.

Đảng ta coi "củng cố chi bộ, thường xuyên giữ vững chế độ và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ" là "khâu trung tâm của công tác củng cố tổ chức cơ sở đảng". Do đó, để nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng quân đội hiện nay trong việc củng cố chi bộ cải tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt, xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trước mắt cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:

Một là, phải quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Chi bộ phải thường xuyên quán triệt, thảo luận đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên và tình hình cụ thể của chi bộ, đơn vị để đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, chi bộ phải chấp hành nghiêm các chế độ sinh hoạt đảng, đồng thời phải thường xuyên cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo phương hướng bảo đảm thông tin đầy đủ chính xác, phát huy dân chủ trong bàn bạc, thảo luận quyết định, giữ vững kỷ luật và tính chất sinh hoạt đúng; cải tiến phương pháp tiến hành hội nghị chi bộ sao cho bảo đảm ngắn gọn có hiệu quả, thiết thực bằng nhiều hình thức sinh hoạt.

Ba là, phải thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo, năng lực vận động quần chúng cho mọi đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ và xây dựng chi bộ. Làm tốt công tác phát triển đảng viên mới bảo đảm đúng phương châm, phương hướng, thủ tục, nguyên tắc, đồng thời kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách, làm trong sạch đội ngũ đảng viên ở chi bộ. Khắc phục biểu hiện gia trưởng, độc đoán chuyên quyền, quân phiệt, coi thường vai trò lãnh đạo của chi ủy, chi bộ, coi thường nghị quyết của Đảng. Tiến hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc, xử lý kỷ luật nghiêm minh.

4.2. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".

Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh là quan điểm đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, là tiếp tục nhận thức sự phát triển của mối quan hệ gắn bó hữu cơ vốn có giữa tổ chức cơ sở đảng và đơn vị trong điều kiện xây dựng, chiến đấu của quân đội hiện nay. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng.

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã triển khai thực hiện công tác này bước đầu đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, do còn lúng túng trong nhận thức về nội dung và cách làm cụ thể nên kết quả đạt được còn hạn chế. Số đảng bộ đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh cao nhưng tỷ lệ đơn vị vững mạnh toàn diện còn thấp. Không ít trường hợp trong nhận thức tư tưởng thì tốt, nhưng trong hoạt động tổ chức thực hiện thì lại tách rời giữa xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".

4.3. Phát huy đầy đủ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ huy của cấp trên với nỗ lực chủ quan của bản thân cơ sở trong việc nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng.

Đây là một nội dung, biện pháp rất quan trọng biểu hiện trong mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng. Do đó, cấp trên cơ sở phải có tác phong sâu sát, lắng nghe cơ sở, giúp đỡ cơ sở một cách thiết thực có hiệu quả. Thường xuyên quan tâm kiện toàn, bồi dưỡng, hướng dẫn cơ quan chính trị và cán bộ chính trị ở cơ sở hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, chức trách. Có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, có ý thức, trách nhiệm cao và nhiệt tình với công việc. Mọi chỉ đạo của cấp trên đối với cấp dưới phải kịp thời, đồng bộ và có tính khả thi cao, phải được cụ thể hóa bằng văn bản để thực hiện thống nhất, có hiệu quả, khắc phục tình trạng chung chung, khép kín trong từng cơ quan, bộ phận. Cấp trên phải nắm vững mạnh, yếu của cơ sở, xác định được khâu nào ở cấp cơ sở tự giải quyết, khắc phục. Khâu nào cấp trên giải quyết, có như vậy mới tạo cho cấp cơ sở phát huy trách nhiệm, mới tin tưởng vào năng lực của mình, tin tưởng và không thụ động, ỷ lại vào cấp trên.

Đối với bản thân đơn vị cơ sở phải phát huy được sức mạnh của toàn đảng bộ, chi bộ và đơn vị trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Cán bộ chủ trì đơn vị, nhất là cấp ủy phải nắm vững những yêu cầu, nội dung, biện pháp xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực tiêu biểu", nắm vững sự chỉ đạo của cấp trên, nắm vững tình hình mọi mặt của đảng bộ, chi bộ, đơn vị để xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp với thực tiễn ở đơn vị.

Cấp ủy, bí thư cơ sở phải phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trước cấp trên và tổ chức đảng cấp mình, thực sự xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo chính trị, trung tâm đoàn kết, đại biểu cho trí tuệ, ý chí của tập thể nhằm xây dựng đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh. Đội ngũ cán bộ chủ trì phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu trong công tác, có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật, phục tùng sự lãnh đạo của tập thể, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, khắc phục triệt để hiện tượng quan liêu, gia trưởng quân phiệt, hành động thiếu tôn trọng đối với cấp dưới.

4.4. Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm trong nghị quyết

Để nghị quyết được triển khai có hiệu quả, trong quá trình ra nghị quyết, TCCSĐ xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm; chương trình đề ra phù hợp với thực tế của cơ quan, đơn vị mình, giải quyết được những vấn đề khó khăn của cơ quan, đơn vị và xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, của từng đảng viên, thời gian hoàn thành công việc.

4.5. Làm tốt công tác quán triệt tới cán bộ, đảng viên, quần chúng

Sau khi có nghị quyết, TCCSĐ cần tổ chức tốt việc quán triệt nghị quyết cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Khi triển khai nghị quyết phải gắn với việc phân công nhiệm vụ cho mỗi tổ chức và đảng viên, có định hướng, giải pháp thực hiện. Trong các đợt sinh hoạt của các đoàn thể và tổ chức quần chúng, cần thông tin cho đoàn viên, hội viên nắm được nghị quyết của chi bộ, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chính trị trung tâm của cơ quan, đơn vị mình. Quá trình thực hiện nghị quyết cần nắm bắt dư luận cán bộ, đảng viên và quần chúng để có hướng giải quyết những vướng mắc, phát sinh, kịp thời chấn chỉnh, bổ sung các vấn đề cần thiết vào nghị quyết cho phù hợp thực tế, với nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên.

4.6. Xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên có chất lượng

Để tạo được sự đồng thuận cao trong đơn vị về việc thực hiện nghị quyết TCCSĐ cần coi trọng xây dựng lực lượng tuyên truyền viên đơn vị. Ngoài đội ngũ cán bộ chính trị, cần phát huy vai trò nòng cốt của các tổ chức, các lực lượng, đây là những người có năng lực, trình độ và uy tín trực tiếp tổ chức giáo dục, tuyên truyền, tổ chức thực hiện nghị quyết. Mặt khác, cần nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thực hiện nói đi đôi với làm, nói và làm đúng, làm tốt nghị quyết đề ra.

4.7. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lãnh đạo

Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình lãnh đạo thực hiện nghị quyết, cần chú trọng việc xây dựng quy chế làm việc của TCCSĐ căn cứ vào Điều lệ Đảng, quy chế của đảng ủy và tình hình thực tế TCCSĐ. Thực hiện thường xuyên chế độ tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, đảng viên gắn với việc đánh giá, nhận xét cán bộ vào định kỳ hằng năm, chú ý đi sâu nội dung thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và tổ chức cho tổ chức quần chúng góp ý kiến về hoạt động của tổ chức đảng, bí thư, cấp ủy viên. Khi có ý kiến khác nhau trong quá trình xây dựng và thực hiện nghị quyết cần biểu quyết theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số.

4.8. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho cấp ủy viên, đảng viên

Để việc phân công nhiệm vụ trong cấp ủy và đảng viên thực hiện nghị quyết của TCCSĐ đạt hiệu quả cao, cấp ủy cấp trên cần phân công cấp ủy viên phụ trách trực tiếp tham gia sinh hoạt và hỗ trợ cấp ủy cấp dưới lãnh đạo thực hiện nghị quyết. Phân công nhiệm vụ cho đảng viên căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, đặc điểm tình hình của đơn vị, năng lực, trình độ, uy tín và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đảng viên. Đồng thời, phải gắn với nơi cư trú của đối tượng được phân công và thường xuyên kiểm tra quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.

4.9. Làm tốt công tác đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên

Làm tốt công tác đánh giá cán bộ, phân loại đảng viên hằng năm, có tác dụng tích cực trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo, thực hiện nghị quyết của TCCSĐ. Phát huy tính tự giác, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, đảng viên trong nhận xét, đánh giá đảng viên. Đi sâu phân tích, góp ý về việc lãnh đạo và thực hiện nghị quyết của TCCSĐ. Đánh giá sát, đúng mức độ hoàn thành nhiệm vụ, khắc phục biểu hiện hình thức, bao che trong đánh giá cán bộ và phân loại đảng viên. Kịp thời khen thưởng những cán bộ, đảng viên và tập thể tổ chức đảng lãnh đạo thực hiện tốt nghị quyết đã đề ra.

4.10. Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ đảng

Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ đảng, xây dựng chương trình công tác tháng và có đánh giá quá trình thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng trong tháng. Nội dung sinh hoạt tập trung bàn biện pháp cụ thể để thực hiện nghị quyết của tổ chức đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng bằng kiểm tra thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất. Hằng tháng sơ kết đánh giá mức độ triển khai nghị quyết, nêu rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, từ đó rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết của TCCSĐ.

5. Kết luận

Nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội vừa là nội dung cơ bản, vừa là yêu cầu cấp bách để góp phần giữ và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, là nhân tố quyết định chất lượng xây dựng đơn vị và hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội là trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, sự nỗ lực của bản thân tổ chức cơ sở đảng và của mọi cán bộ, đảng viên. Trong đó, đội ngũ cán bộ chính trị nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chính trị ở cơ sở có vai trò to lớn, trách nhiệm nặng nề.

Phát huy tốt vai trò, sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tập thể tham gia tích cực vào công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện độc đoán, gia trưởng, xa rời nguyên tắc hoặc chủ quan, tuỳ tiện trong quá trình tổ chức thực hiện. Tiến hành sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá chính xác, đầy đủ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và tiếp tục đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tiếp theo. Đề xuất khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích tiêu biểu; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong quán triệt, tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, tiếp tục xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của các tổ chức cơ sở đảng, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta hiện nay.

Trung tá, Ths Dương Ngọc Hà

Trường Sĩ quan Lục quân 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1.] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam;

[2] C.Mác - Ph.Ăngghen tuyển tập tiếng Trung, Nxb ND, 1972 quyển 1, tr.386.

[3] C.Mác - Ph.Ăngghen toàn tập, tập 7 Nxb CTQG, H 1993, tr. 348.

[4] V. I. Lênin toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, M, 1978, tr. 232 - 233.

[5] Hồ Chi Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 1996, tr. 210.

[6] Điều lệ CTĐ, CTCT trong QĐNDVN; NXB Quân đội năm 2018, Kèm theo Quyết định số 1151 - QĐ/QUTW ngày 30/11/2017 của Ban Thường vụ QUTW…