Nâng cao chất lượng công tác giám sát ngân sách Nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, 20/10/2026 - 00:14

Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng hàng đầu để Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Theo điều 6 Luật Ngân sách Nhà nước hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương được tổ chức theo các cấp hành chính có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó ngân sách cấp tỉnh giữ vị trí then chốt, quyết định lớn đến nguồn lực phát triển của địa phương.

1. Đặt vấn đề

Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội và Hội đồng nhân dân có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực hiện pháp luật. Đối với lĩnh vực tài chính - ngân sách, điều 31 Luật Ngân sách nhà nước 2025[1] quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh không chỉ thực hiện quyền quyết định dự toán, phân bổ và phê chuẩn quyết toán mà còn có trách nhiệm giám sát việc chấp hành ngân sách đã được quyết định. Giám sát ngân sách là cách thức hiệu quả để gắn kết các hoạt động thu, chi với mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể, bảo đảm nguồn lực được tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, chế độ; phân phối và sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả[2].

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, mặc dù khung pháp lý đã được hoàn thiện từng bước, công tác giám sát ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế về tính thực chất, hiệu lực và hiệu quả. Chất lượng quyết định và giám sát chưa hoàn toàn đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cử tri. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thể chế quản lý tài chính công và Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (áp dụng từ năm 2026) tiếp tục nâng cao yêu cầu về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, việc nâng cao chất lượng công tác giám sát ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan dân cử mà còn là điều kiện để phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong quản trị tài khóa bền vững, góp phần xây dựng nhà nước kiến tạo, liêm chính, phục vụ Nhân dân.

2. Thẩm quyền giám sát ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2025 và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2025, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có hệ thống thẩm quyền khá đầy đủ trong lĩnh vực ngân sách địa phương. Cụ thể, Hội đồng nhân dân quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách; quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã quyết định. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn có quyền quyết định thu, chi lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền giám sát được cụ thể hóa thông qua hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân (đặc biệt là Ban Kinh tế - Ngân sách) và Tổ đại biểu. Khi xét thấy cần thiết, các chủ thể này có thể tiến hành giám sát đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên địa bàn liên quan đến việc chấp hành ngân sách nhà nước[3]. Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 tiếp tục củng cố và làm rõ hơn vai trò của Hội đồng nhân dân theo hướng tăng cường sự tham gia sâu vào quá trình xem xét, thảo luận, đánh giá dự toán và phương án phân bổ; nâng cao quyền tiếp cận thông tin; theo dõi, đôn đốc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát và kiểm toán.

Thông qua việc thực hiện các thẩm quyền nêu trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đóng vai trò trung tâm trong việc bảo đảm ngân sách địa phương được phân bổ đúng mục tiêu, đúng định hướng phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với khả năng cân đối và yêu cầu thực tiễn. Hoạt động giám sát góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, phòng ngừa lãng phí, thất thoát, đồng thời tạo áp lực để chính quyền địa phương hoạt động có trách nhiệm hơn đối với cử tri. Khi mọi chi phí liên quan đến quyết định của chính quyền địa phương do cử tri địa phương gánh chịu, cử tri sẽ có công cụ và động lực để buộc chính quyền phục vụ tốt hơn nhu cầu, lợi ích của mình.

3. Thực trạng thực hiện quyền giám sát ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trong những năm gần đây, Hội đồng nhân dân các tỉnh đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định và giám sát các vấn đề tài chính, ngân sách. Nhiều địa phương đã chú trọng công tác thẩm tra dự toán, phân bổ và quyết toán; tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề về sử dụng vốn đầu tư công, quản lý quỹ đất, nợ công địa phương… Tuy nhiên, nhìn tổng thể, việc thực hiện quyền giám sát vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa thật đầy đủ và thực chất.

Thứ nhất, chất lượng quyết định các vấn đề mang tính chiến lược về tài chính, ngân sách chưa cao. Hội đồng nhân dân chủ yếu xem xét, thông qua các phương án do Ủy ban nhân dân trình, mức độ tham gia sâu vào quá trình xây dựng và điều chỉnh dự toán còn hạn chế. Quyền phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia giữa các cấp ngân sách địa phương vẫn đang ở bước đầu; cơ chế, phương thức thực hiện chưa có sự đổi mới lớn[4].

Thứ hai, tính độc lập trong giám sát còn thấp. Hội đồng nhân dân thiếu một số quy định tạo sự độc lập cao hơn, còn phụ thuộc nhiều vào bộ máy của Ủy ban nhân dân khi xem xét các vấn đề tài chính. Kiểm toán nhà nước chưa cung cấp đầy đủ dịch vụ kiểm toán phục vụ giám sát tài chính công của Hội đồng nhân dân. Thiếu cơ chế cụ thể cho phép Hội đồng nhân dân thường xuyên yêu cầu và tiếp nhận thông tin kiểm chứng độc lập đối với số liệu do Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn báo cáo. Với số lượng đại biểu chuyên trách còn mỏng và đội ngũ cán bộ giúp việc hạn chế, Hội đồng nhân dân khó tự mình thẩm tra, đánh giá đầy đủ nếu không dựa vào thông tin từ phía hành chính.

Thứ ba, phương thức giám sát còn nặng về xem xét báo cáo. Việc tổ chức giám sát của Thường trực và các Ban bao gồm cả xem xét báo cáo và kiểm tra thực tế, nhưng tình trạng tập trung vào báo cáo vẫn phổ biến do lực lượng chuyên trách mỏng, đại biểu kiêm nhiệm chưa dành nhiều thời gian, thông tin liên quan chưa đa chiều. Hệ quả là hiệu quả giám sát chưa cao, chưa nhận diện rõ trách nhiệm chính sách đứng sau các con số ngân sách - tài chính. Giám sát thực hiện chính sách vốn mang tính dài hạn, trải qua nhiều nhiệm kỳ, nhưng cách làm ngân sách hàng năm còn bị động đã hạn chế tầm chiến lược của Hội đồng nhân dân.

Thứ tư, năng lực của đại biểu còn bất cập. Phần lớn đại biểu không chuyên sâu về thu chi ngân sách nên thường lúng túng, chỉ quan tâm đến những vấn đề nổi cộm hoặc đi sâu vào nội dung mang tính tác nghiệp đã có chuẩn mực rõ ràng, dẫn đến phân tán tư tưởng, chưa tập trung vào việc xem xét kế hoạch phân bổ và thực hiện các chính sách ưu tiên liên quan đến ngành, địa phương. Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị sau giám sát và kiểm toán chưa thường xuyên, dẫn đến tình trạng chậm khắc phục tồn tại trong quản lý, sử dụng ngân sách.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: sự tập trung cao vào các cơ quan trung ương trong quản lý và điều hành ngân sách làm giảm tính năng động của địa phương; thiếu cơ chế thông tin độc lập; tỷ lệ đại biểu chuyên trách thấp; chưa có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ công nghệ và dữ liệu. Hệ quả là các quyết định của Hội đồng nhân dân chưa thật sự thực quyền, hiệu lực giám sát chưa tương xứng với vị trí của cơ quan dân cử.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát ngân sách của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Để nâng cao chất lượng công tác giám sát ngân sách nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong giai đoạn tới, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát. Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Kinh tế - Ngân sách cần chủ động xây dựng kế hoạch, tập trung chọn "trúng" và "đúng" những vấn đề điểm nóng, bức xúc được nhiều cử tri, cấp, ngành quan tâm (như sử dụng vốn đầu tư các dự án thuộc kế hoạch trung hạn, nguồn bù đắp bội chi, quỹ dự trữ tài chính từ tăng thu, kết dư…). Đối tượng giám sát phải mang tính đại diện, bao quát để vừa nhìn nhận từ đơn vị cụ thể vừa đánh giá khái quát trên diện rộng. Thời điểm giám sát cần được lựa chọn thích hợp để thu thập thông tin nhiều nhất, chính xác nhất mà không ảnh hưởng lớn đến hoạt động bình thường của đơn vị (ví dụ giám sát quỹ dự trữ tài chính nên tổ chức vào tháng 8, 9)[5].

Hai là, phát huy mạnh mẽ vai trò của Ban Kinh tế - Ngân sách và đại biểu Hội đồng nhân dân trong toàn bộ quy trình ngân sách. Ban Kinh tế - Ngân sách với tư cách cơ quan chủ trì cần phối hợp chặt chẽ với các Ban khác để tham mưu cho Thường trực và Hội đồng nhân dân trong xem xét, quyết định và tổ chức giám sát. Đại biểu cần tham gia sâu vào cả ba giai đoạn: lập dự toán (tiếp cận sớm, trao đổi với cơ quan chức năng, phản ánh ý kiến cử tri); thẩm tra dự toán (thảo luận, phân tích ưu tiên chính sách, xác định địa chỉ cần phân bổ nguồn lực); và thẩm tra, phê chuẩn quyết toán (đối chiếu với nghị quyết phân bổ, yêu cầu giải trình các phát sinh). Tại kỳ họp, đại biểu cần phát huy tối đa quyền phát biểu, tranh luận để lựa chọn phương án tối ưu về huy động nguồn thu và phân bổ chi.

Ba là, tăng cường năng lực tổ chức và chuyên môn của Hội đồng nhân dân. Tiếp tục nâng tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách lên 35 - 40%, đặc biệt tại các Ban, nhất là Ban Kinh tế - Ngân sách. Xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực đối với đại biểu, bao gồm kiến thức về tài chính công, kế toán, kiểm toán và quản trị dữ liệu ngân sách. Thành lập Trung tâm Phân tích ngân sách địa phương trực thuộc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh để thu thập, xử lý, phân tích dữ liệu tài chính công, hỗ trợ đại biểu ra quyết định. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về tài chính công một cách thường xuyên, có hệ thống[6].

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và liên thông dữ liệu để giám sát theo thời gian thực. Liên thông dữ liệu giữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Kho bạc Nhà nước khu vực, cơ quan Thuế, Sở Tài chính và Kiểm toán Nhà nước khu vực giúp các Ban của Hội đồng nhân dân giám sát linh hoạt, hiệu quả hơn. Tích hợp kết quả kiểm toán vào kế hoạch giám sát thông qua cơ chế "báo cáo kết nối" giữa Kiểm toán Nhà nước khu vực và Ban Kinh tế - Ngân sách. Xây dựng Cổng thông tin ngân sách mở để công khai dự toán, quyết toán, tỷ lệ giải ngân theo lĩnh vực; phát triển mô hình Hội đồng nhân dân điện tử (E-Council); khai thác trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để nhận diện rủi ro nợ công, phát hiện chi bất thường, dự báo thu - chi.

Năm là, hoàn thiện cơ chế giải trình, phản hồi chính sách và trách nhiệm. Mỗi tờ trình ngân sách của Ủy ban nhân dân cần kèm theo báo cáo phân tích tác động tài khóa, đánh giá rủi ro và nguồn bù đắp. Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung hoặc không thông qua nếu chưa đủ căn cứ. Cơ chế phản hồi hai chiều này giúp giám sát có sức ràng buộc pháp lý thực chất. Đồng thời, thiết lập rõ ràng cơ chế khen thưởng đối với những tập thể, cá nhân có sáng kiến, kết quả giám sát hiệu quả và xử lý trách nhiệm đối với trường hợp giám sát hình thức. Cần cụ thể hóa đầy đủ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước năm 2025; nâng cao chất lượng thông tin, báo cáo cung cấp cho Hội đồng nhân dân; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan liên quan.

Sáu là, đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và tài chính - ngân sách, tạo cơ sở để Hội đồng nhân dân thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn. Tăng quyền chủ động và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân sẽ góp phần hạn chế sự chồng chéo thẩm quyền, giảm tình trạng ỷ lại và kém năng động của chính quyền địa phương.

Nâng cao chất lượng công tác giám sát ngân sách nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo hướng đồng kiến tạo chính sách, dựa trên dữ liệu, minh bạch và trách nhiệm giải trình là xu thế tất yếu của quản trị công hiện đại. Khi Hội đồng nhân dân không chỉ giám sát mà còn là đối tác chính sách đồng hành với Ủy ban nhân dân, hoạt động giám sát sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công, củng cố kỷ luật ngân sách, tăng cường niềm tin của Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo

Luật Ngân sách nhà nước 2025; 

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2025. 

Vũ Tiến Anh. Đổi mới giám sát ngân sách nhà nước của HĐND cấp tỉnh theo hướng "đồng kiến tạo chính sách" và quản trị tài khóa bền vững. 

Tạp chí Kinh tế - Tài chính, https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/doi-moi-giam-sat-ngan-sach-nha-nuoc-cua-hdnd-cap-tinh-theo-huong-dong-kien-tao-chinh-sach-va-quan-tri-tai-khoa-ben-vung-136531.html

Nguyễn Thị Mai Dung - Nguyễn Thị Huệ Pháp luật về giám sát hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước số tháng 12/2020 

Nguyễn Thị Ngọc Xuân Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong quá trình tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước 24/6/2025 https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/24/hoat-dong-giam-sat-cua-hoi-dong-nhan-dan-trong-qua-trinh-to-chuc-chinh-quyen-do-thi-o-ha-noi-da-nang-va-tp-ho-chi-minh/


[1] Luật Ngân sách nhà nước 2025

[2] Nguyễn Thị Mai Dung - Nguyễn Thị Huệ Pháp luật về giám sát hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước số tháng 12/2020

[3] Nguyễn Thị Ngọc Xuân Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong quá trình tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước 24/6/2025

[4] Nguyễn Thị Ngọc Xuân Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong quá trình tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước 24/6/2025

[5] Vũ Tiến Anh. Đổi mới giám sát ngân sách nhà nước của HĐND cấp tỉnh theo hướng "đồng kiến tạo chính sách" và quản trị tài khóa bền vững. Tập chí Kinh tế - Tài chính

[6] Vũ Tiến Anh. Đổi mới giám sát ngân sách nhà nước của HĐND cấp tỉnh theo hướng "đồng kiến tạo chính sách" và quản trị tài khóa bền vững. Tập chí Kinh tế - Tài chính

Lê Ngọc Hưng - ThS. Ngô Thị Luyến, Học viện Hành chính và Quản trị công