Năng lực kiến tạo phát triển của báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước

Chủ nhật, 20/09/2026 - 23:44

Đổi mới mô hình phát triển đất nước đang đặt ra yêu cầu mới đối với vị trí, vai trò và phương thức hoạt động của báo chí cách mạng Việt Nam. Trong mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, báo chí không chỉ thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận, giám sát và phản biện xã hội, mà còn cần nâng cao khả năng phát hiện vấn đề phát triển, kiến giải chính sách, cung cấp tri thức và bằng chứng, tổ chức đối thoại, kết nối các chủ thể, củng cố niềm tin xã hội và lan tỏa những giá trị, sáng kiến, giải pháp có ý nghĩa đối với phát triển.

Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của khái niệm "năng lực kiến tạo phát triển của báo chí"; phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước; đề xuất khung phân tích gồm sáu nhóm năng lực tác động trực tiếp và phương diện năng lực bảo đảm; từ đó gợi mở một số định hướng nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của báo chí Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ khóa: báo chí Việt Nam; năng lực kiến tạo phát triển; báo chí cách mạng; đổi mới mô hình phát triển; quản trị phát triển.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới mô hình phát triển đất nước đang đặt báo chí cách mạng Việt Nam trước một yêu cầu đặc biệt. Một mặt, sự chuyển đổi về mô hình tăng trưởng, thể chế, quản trị quốc gia, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội và môi trường tạo ra nhiều vấn đề mới cần được thông tin, giải thích và phản biện một cách có chiều sâu. Mặt khác, chính môi trường truyền thông cũng đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mạng xã hội và các nền tảng xuyên biên giới. Trong điều kiện đó, năng lực của báo chí không thể chỉ được nhìn từ tốc độ đưa tin, số lượng sản phẩm hay quy mô tiếp cận công chúng, mà cần được xem xét từ khả năng tạo ra thông tin đáng tin cậy, tri thức có ích và những điều kiện thông tin cần thiết cho quá trình phát triển.

Sự thay đổi này đặc biệt quan trọng khi phát triển ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, tri thức, dữ liệu, niềm tin và khả năng phối hợp giữa các chủ thể. Một chính sách đúng nhưng không được giải thích đầy đủ có thể gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện; một điểm nghẽn kéo dài nhưng không được nhận diện đúng nguyên nhân có thể làm gia tăng chi phí xã hội; một sáng kiến có giá trị nhưng không được kiểm chứng và khái quát điều kiện áp dụng khó trở thành tri thức chung. Báo chí với lợi thế tiếp cận thực tiễn, khả năng tổ chức thông tin và tạo lập diễn đàn xã hội, có thể tham gia vào những quá trình đó bằng chính hoạt động nghề nghiệp của mình.

Tuy nhiên, giữa việc khẳng định vai trò của báo chí đối với phát triển và việc xác định báo chí có đủ khả năng thực hiện vai trò ấy hay không vẫn còn một khoảng trống nghiên cứu. Cách tiếp cận theo "vai trò" chủ yếu trả lời báo chí được kỳ vọng làm gì; trong khi cách tiếp cận theo "năng lực" đi sâu hơn vào khả năng tổ chức, huy động và phối hợp con người, tri thức, dữ liệu, công nghệ, nguồn lực và quy trình nghề nghiệp để thực hiện những chức năng đó trong những điều kiện cụ thể. Sự chuyển dịch từ nghiên cứu vai trò sang nghiên cứu năng lực vì thế có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, cho phép nhận diện rõ hơn những điều kiện tạo nên chất lượng hoạt động của một cơ quan báo chí, đồng thời hạn chế cách đánh giá giản đơn dựa trên sản lượng, mức độ lan truyền hoặc một số trường hợp tác động riêng lẻ.

Từ cách đặt vấn đề đó, bài viết tập trung làm rõ bốn nội dung chủ yếu: Một là, phân tích những yêu cầu mới đối với báo chí trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước; Hai là, xác lập nội hàm và cơ chế tác động của khái niệm "năng lực kiến tạo phát triển của báo chí"; Ba là, đề xuất các phương diện cấu thành và phân tích sự biểu hiện của năng lực kiến tạo phát triển trong cấu trúc mô hình phát triển mới; Bốn là, gợi mở những điều kiện phát huy năng lực kiến tạo phát triển của báo chí Việt Nam. Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa khái niệm; khung năng lực được đề xuất mang tính lý luận, cần tiếp tục được kiểm định bằng phân tích nội dung, khảo sát công chúng, phỏng vấn và nghiên cứu trường hợp trong các nghiên cứu tiếp theo.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với năng lực báo chí

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt đổi mới mô hình phát triển trong mối liên hệ với tự chủ chiến lược, phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân; đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới (1). Đây là bối cảnh để nghiên cứu báo chí không chỉ như một lĩnh vực phản ánh thành tựu, phổ biến chủ trương, mà còn như một thiết chế tham gia hình thành những điều kiện thông tin, tri thức và xã hội của quá trình phát triển.

Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, "Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" xác định sự chuyển đổi sang mô hình "tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập"; đặt đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia ở vị trí tạo lập năng lực phát triển mới (2). Theo cách đặt vấn đề này, đổi mới mô hình là thay đổi cách nhận diện nhu cầu, kết nối nguồn lực, tổ chức hành động và đánh giá kết quả trên các lĩnh vực.

Trong phạm vi bài viết, mô hình phát triển được tiếp cận như cách tổ chức tổng thể các mục tiêu, nguồn lực, động lực, quan hệ giữa các chủ thể và phương thức quản trị để tạo ra kết quả phát triển. Theo đó, đổi mới mô hình bao hàm thay đổi cách tạo giá trị, phân phối cơ hội và xử lý những hệ quả của phát triển. Báo chí liên quan đến quá trình này ở hai chiều, gồm cung cấp tri thức để nhận diện, lựa chọn, tổ chức thay đổi; đồng thời phản ánh trải nghiệm của các nhóm xã hội để kiểm tra chất lượng thay đổi. Cách tiếp cận ấy cho phép đặt một vấn đề kinh tế trong quan hệ với văn hóa, xã hội và môi trường; đặt một sáng kiến địa phương trong điều kiện liên kết vùng; đặt tốc độ tăng trưởng trong tương quan với khả năng thích ứng và chất lượng sống của con người.

Một mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào tri thức đòi hỏi xã hội có khả năng tiếp nhận, kiểm tra và sử dụng tri thức. Một nền quản trị dựa trên dữ liệu đòi hỏi dữ liệu có thể được giải thích, đối chiếu và chuyển thành căn cứ thảo luận. Một quá trình đổi mới lấy con người làm trung tâm đòi hỏi tiếng nói của người dân được tiếp nhận ngay từ khâu nhận diện vấn đề, không chỉ khi thông báo quyết định. Chính vì vậy, năng lực báo chí có thể góp phần quyết định chất lượng thông tin mà các chủ thể sử dụng, dù không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của họ.

Điểm cần nhấn mạnh là phạm vi phát triển rộng hơn phạm vi tăng trưởng. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28-7-2026, về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đặt chất lượng sống, an ninh con người, niềm tin và hạnh phúc trong hệ mục tiêu; đồng thời nêu yêu cầu không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội, môi trường và các giá trị văn hóa lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần (3). Bởi vậy, nghiên cứu báo chí kiến tạo phát triển phải quan tâm cả những người được hưởng lợi và những nhóm chịu chi phí chuyển đổi; cả năng suất kinh tế và khả năng tiếp cận các điều kiện sống có chất lượng.

Từ góc độ báo chí, có thể nhận diện ba chuyển dịch về yêu cầu. Trước hết, nhu cầu thông tin chuyển từ biết một chủ trương đã được ban hành sang hiểu căn cứ, điều kiện và tác động của chủ trương. Tiếp đó, nhu cầu phản hồi chuyển từ phản ánh một trường hợp sang làm rõ vấn đề có tính hệ thống. Đồng thời, nhu cầu kết nối chuyển từ phổ biến kinh nghiệm riêng lẻ sang tạo điều kiện để các chủ thể học hỏi, phối hợp và kiểm tra khả năng áp dụng. Những chuyển dịch này không phủ nhận giá trị của thông tin sự kiện; chúng đặt thông tin sự kiện trong một quá trình kiến giải dài hơn.

Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22-8-2026, của Bộ Chính trị, "Về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới" yêu cầu gắn công tác tư tưởng với toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách; chú trọng công khai, minh bạch, đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội (4). Khi vận dụng vào nghiên cứu báo chí, cần phân biệt trách nhiệm truyền thông của cơ quan hoạch định chính sách với trách nhiệm nghề nghiệp của cơ quan báo chí. Báo chí vừa giải thích chính sách, vừa thu nhận thực tiễn, kiểm tra thông tin và phản ánh những vấn đề chưa được giải quyết.

Một chuyển đổi khác diễn ra ngay trong môi trường hoạt động báo chí. Trong bài viết "Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số", GS, TS. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ, trong trật tự truyền thông mới, "báo chí không còn giữ vị trí gần như độc quyền phát tin"; đồng thời nhấn mạnh: "Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng" (5). Điều đó đặt ra yêu cầu đối với báo chí không chỉ ở khả năng thông tin nhanh, mà còn ở năng lực kiểm chứng, phân tích, làm rõ nguyên nhân, tác động, trách nhiệm và những giải pháp có cơ sở. Từ đó, lợi thế nghề nghiệp của báo chí trong môi trường truyền thông mới cần được xác lập trước hết ở độ tin cậy và chất lượng nhận thức mà báo chí tạo ra, chứ không chỉ ở số lượng nội dung được phát đi.

Đặt hai quá trình chuyển đổi cạnh nhau cho thấy một yêu cầu kép: Đất nước cần năng lực báo chí tương xứng với mô hình phát triển mới, trong khi bản thân báo chí phải thay đổi cách tổ chức hoạt động để đáp ứng yêu cầu ấy. Không thể mặc nhiên coi việc có thêm nền tảng, định dạng hoặc công cụ trí tuệ nhân tạo là đã có năng lực kiến tạo. Một hệ thống sản xuất nhanh hơn vẫn có thể cung cấp những thông tin rời rạc nếu thiếu tích lũy chuyên môn; một diễn đàn lớn vẫn có thể thiếu giá trị nếu những người chịu tác động không được tham gia.

Vì thế, vấn đề trung tâm không dừng ở khẳng định báo chí có vai trò quan trọng. Cần đi sâu vào khả năng hiện thực hóa vai trò: Báo chí có phát hiện được những vấn đề chưa được nhận diện đầy đủ không; có tạo ra cách hiểu đáng tin cậy không; có theo dõi được quá trình xử lý không; có giúp tri thức và sáng kiến đến được nơi cần sử dụng không? Trả lời những câu hỏi đó là bước chuyển từ tiếp cận chức năng sang tiếp cận năng lực, đồng thời tạo cơ sở phân biệt đóng góp thực chất với sự hiện diện về mặt truyền thông.

2.2. Nội hàm và cơ chế tác động của năng lực kiến tạo phát triển

Về phương pháp luận, cần phân biệt vai trò, nguồn lực và năng lực. Vai trò chỉ vị trí, chức năng và những kỳ vọng đặt ra đối với chủ thể. Nguồn lực là các điều kiện có thể huy động để thực hiện công việc. Năng lực là khả năng tổ chức, phối hợp, sử dụng những điều kiện đó để xử lý nhiệm vụ và thích ứng với yêu cầu mới. Một tòa soạn có nhiều dữ liệu chưa đương nhiên biết phát hiện vấn đề từ dữ liệu; có chuyên gia cộng tác chưa đương nhiên tổ chức được tranh luận có chất lượng; có công chúng đông chưa đương nhiên tạo được sự hiểu biết đầy đủ.

Tiếp cận phát triển năng lực của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc nhấn mạnh khả năng thực hiện chức năng, giải quyết vấn đề và đạt mục tiêu một cách bền vững; đồng thời xem cá nhân, tổ chức và môi trường bảo đảm là những cấp độ tác động qua lại (6). Vận dụng vào báo chí, đơn vị phân tích trọng tâm nên là cơ quan báo chí, nhưng không tách khỏi phẩm chất, kỹ năng của người làm báo và các điều kiện hoạt động bên ngoài. Năng lực của tổ chức biểu hiện ở khả năng phối hợp con người, quy trình và nguồn lực, chứ không chỉ ở sự xuất hiện của một số nhà báo giỏi.

Khái niệm kiến tạo trong nghiên cứu này được tiếp cận từ khả năng góp phần tạo lập điều kiện phát triển bằng hoạt động báo chí. Báo chí không nắm thẩm quyền phân bổ nguồn lực công, quyết định chính sách hoặc điều hành doanh nghiệp. Phương tiện tác động chủ yếu của báo chí là thông tin được kiểm chứng, sự kiến giải, điều tra, phản biện, diễn đàn và quan hệ với công chúng. Giá trị kiến tạo xuất hiện khi những hoạt động ấy giúp các chủ thể hiểu vấn đề đầy đủ hơn, có thêm căn cứ để lựa chọn và có điều kiện kiểm tra trách nhiệm đối với hành động.

Từ đó, có thể đề xuất: Năng lực kiến tạo phát triển của báo chí Việt Nam là khả năng của chủ thể báo chí huy động, tổ chức và phối hợp bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tri thức chuyên môn, nguồn lực và quy trình hoạt động để chủ động nhận diện, kiến giải vấn đề phát triển; cung cấp thông tin, bằng chứng đáng tin cậy; giám sát, phản biện, tổ chức đối thoại và phổ biến sáng kiến; qua đó góp phần nâng cao hiểu biết, trách nhiệm giải trình, niềm tin có cơ sở và khả năng tham gia, hành động của các chủ thể vì lợi ích công cộng và sự phát triển của đất nước.

Từ định nghĩa trên, có thể nhận diện ba đặc trưng cơ bản của năng lực kiến tạo phát triển của báo chí. Trước hết, đây là năng lực được thực hiện bằng chính hoạt động nghề nghiệp của báo chí. Báo chí kiến tạo giá trị phát triển thông qua thông tin, phân tích, điều tra, giám sát, phản biện, tổ chức đối thoại và phổ biến tri thức, chứ không làm thay chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước hay phân bổ nguồn lực của các thiết chế khác. Đồng thời, đây là năng lực mang tính tổ chức, bởi khả năng tạo ra giá trị phát triển không thể chỉ phụ thuộc vào một vài tác phẩm nổi bật hay năng lực cá nhân của một số nhà báo, mà phải được hình thành và duy trì thông qua đội ngũ, quy trình, dữ liệu, công nghệ, nguồn lực và phương thức quản trị của cơ quan báo chí. Cuối cùng, tính kiến tạo được xác định bởi giá trị phát triển mà hoạt động báo chí hướng tới, thể hiện ở khả năng góp phần nâng cao hiểu biết xã hội, thúc đẩy trách nhiệm giải trình, mở rộng sự tham gia, hỗ trợ giải quyết vấn đề và tạo lập những điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững. Chính ba đặc trưng này tạo nên ranh giới giữa năng lực kiến tạo phát triển với những hoạt động đơn thuần tạo sự chú ý, gia tăng tương tác hoặc tổ chức các sự kiện truyền thông.

Cách tiếp cận này cũng cần được phân biệt với một số khái niệm gần. Trước hết là constructive journalism, thường được dịch là "báo chí kiến tạo" hoặc "báo chí xây dựng". Nghiên cứu của Peter Bro cho thấy đây là một khuynh hướng báo chí hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển một số cách tiếp cận trước đó, với sự nhấn mạnh vào việc khắc phục thiên lệch quá mức về xung đột, tiêu cực, đồng thời tăng cường bối cảnh, triển vọng và khả năng tiếp cận giải pháp trong tác phẩm báo chí (7). Tuy nhiên, constructive journalism chủ yếu đề cập đến cách tiếp cận trong sản xuất nội dung và tác nghiệp, trong khi năng lực kiến tạo phát triển được đề xuất trong nghiên cứu này có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả năng lực tổ chức của cơ quan báo chí, khả năng tích lũy và sử dụng tri thức, giám sát, phản biện, tổ chức đối thoại, kết nối các chủ thể và duy trì những điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghề nghiệp. Vì vậy, cách tiếp cận hướng tới giải pháp có thể là một phương thức biểu hiện của năng lực kiến tạo phát triển, nhưng không bao quát toàn bộ nội hàm của khái niệm này.

Tương tự, năng lực kiến tạo phát triển cũng không đồng nhất với báo chí phát triển (development journalism). Báo chí phát triển trước hết thể hiện một định hướng nội dung và cách tiếp cận đối với những vấn đề của quá trình phát triển; còn năng lực kiến tạo phát triển tập trung vào khả năng thực tế của chủ thể báo chí trong việc thực hiện định hướng đó và tạo ra giá trị xã hội. Một cơ quan báo chí có thể dành nhiều dung lượng cho các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường hoặc an sinh, nhưng điều đó chưa đủ để khẳng định cơ quan ấy có năng lực kiến tạo phát triển. Vấn đề cần xem xét là báo chí có nhận diện đúng vấn đề hay không, có cung cấp được thông tin và bằng chứng đáng tin cậy hay không, có lý giải được nguyên nhân, điều kiện và tác động hay không, có tổ chức được phản hồi và theo dõi vấn đề đến kết quả hay không. Vì thế, năng lực kiến tạo phát triển không được nhận diện qua số lượng nội dung về phát triển, mà qua chất lượng tổ chức hoạt động báo chí và khả năng chuyển hóa thông tin thành tri thức, đối thoại, trách nhiệm và giá trị công cộng.

Một gợi mở khác là cách UNESCO đặt báo chí trong quan hệ với lợi ích công cộng trong báo cáo toàn cầu 2021/2022 (8). Từ gợi mở này, có thể phân biệt giá trị trao đổi của sản phẩm với giá trị xã hội của thông tin. Tác phẩm có thể được bán, cấp phép hoặc hỗ trợ bằng những nguồn thu hợp pháp; đồng thời, thông tin của nó có thể giúp người không trực tiếp trả tiền hiểu một rủi ro hoặc một vấn đề chung. Vì vậy, doanh thu và lượng tiếp cận là những căn cứ quản trị cần thiết, nhưng không bao quát toàn bộ giá trị phát triển của báo chí.

Cơ chế tác động có thể được hình dung qua các mối liên hệ: Năng lực tổ chức tạo điều kiện cho sản phẩm có chất lượng; sản phẩm được tiếp nhận có thể nâng cao hiểu biết và chất lượng thảo luận; thông tin, đối thoại và phản hồi có thể hỗ trợ điều chỉnh quyết định; quyết định được thực hiện mới tạo ra thay đổi trong thực tiễn. Đây là chuỗi đóng góp có điều kiện, không phải một đường thẳng tất định. Cùng một nội dung có thể được các nhóm công chúng tiếp nhận khác nhau, còn thay đổi thực tiễn phụ thuộc cả thẩm quyền, nguồn lực, lợi ích và cơ chế phối hợp.

Đáng chú ý, báo chí vừa tác động đến môi trường phát triển, vừa chịu tác động trở lại từ môi trường ấy. Phản hồi của người dân có thể giúp sửa cách đặt vấn đề; kết quả thực thi có thể bác bỏ giả định ban đầu; một rủi ro mới có thể làm thay đổi ưu tiên nội dung. Tòa soạn có năng lực cần biết học từ những phản hồi này, cập nhật hồ sơ và điều chỉnh phương pháp. Kiến tạo không chỉ là đưa tri thức từ báo chí đến xã hội, mà còn là khả năng đưa tri thức từ đời sống trở lại quá trình sản xuất báo chí.

Giới hạn nghề nghiệp phải được đặt ngay trong cơ chế đó. Thông tin về bất cập không đối lập với kiến tạo; cảnh báo có căn cứ đôi khi làm giảm lạc quan ngắn hạn nhưng giúp nhận diện đúng rủi ro. Ngược lại, thông tin thuận chiều thiếu kiểm chứng có thể tạo kỳ vọng mà không làm tăng chất lượng quyết định. Đồng thuận cũng không đồng nghĩa với việc mọi chủ thể phải có cùng ý kiến. Giá trị cần hướng tới là khả năng trao đổi trên cơ sở sự thật, hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và những khác biệt cần tiếp tục giải quyết.

Bởi vậy, năng lực kiến tạo phát triển không nên được coi là một chức năng hoàn toàn mới thay thế các chức năng thông tin, giáo dục, giám sát, phản biện, diễn đàn và phổ biến tri thức. Đây là cách nhìn tích hợp về chất lượng thực hiện những chức năng ấy trong điều kiện mới. Bài viết được triển khai bằng phương pháp phân tích, tổng hợp khái niệm; khung năng lực dưới đây là đề xuất để tiếp tục khảo sát, không phải kết quả đo lường thực chứng của toàn bộ nền báo chí Việt Nam.

Năng lực kiến tạo phát triển của báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước - Ảnh 1.

Sơ đồ 1 khái quát cơ chế tác động của năng lực kiến tạo phát triển của báo chí từ tầng năng lực và điều kiện bảo đảm, thông qua các hoạt động nghề nghiệp và kết quả xã hội trực tiếp, tới những đóng góp đối với phát triển.

2.3. Những phương diện cấu thành năng lực kiến tạo phát triển của báo chí

Có thể phân tích năng lực kiến tạo phát triển theo hai phương diện. Phương diện thứ nhất gồm sáu nhóm năng lực gắn với những nhiệm vụ tác động trực tiếp ra đời sống xã hội. Phương diện thứ hai gồm các năng lực và điều kiện bảo đảm để những nhiệm vụ ấy được thực hiện, duy trì và đổi mới. Các nhóm không phải sáu công đoạn bắt buộc diễn ra tuần tự. Một tác phẩm có thể đồng thời kiến giải, giám sát và tạo đối thoại; sự phân chia nhằm nhận diện nhiệm vụ chủ đạo và điều kiện thực hiện, không chia cắt hoạt động báo chí thành những phần biệt lập.

Một là, năng lực định hướng nhận thức và kiến giải những vấn đề phát triển.

Năng lực này thể hiện ở khả năng làm sáng tỏ mối liên hệ giữa mục tiêu, phương thức và điều kiện phát triển, giúp công chúng hiểu một vấn đề trong bối cảnh thay vì chỉ ghi nhớ thông điệp. Trong phạm vi Nghị quyết số 19-NQ/TW, các thuộc tính tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập cần được giải thích trong quan hệ với những nhiệm vụ cụ thể (9). Đối với báo chí, đó là yêu cầu đặt câu hỏi về năng lực công nghệ, cơ hội của con người, giới hạn sinh thái và khả năng hợp tác, không chỉ nhắc lại tên gọi mô hình.

Kiến giải có chiều sâu đòi hỏi năng lực chuyển đổi giữa ngôn ngữ chiến lược, ngôn ngữ chuyên môn và trải nghiệm đời sống. Khi phản ánh chuyển đổi số, cần phân biệt số hóa hồ sơ với đổi mới quy trình và khả năng phục vụ. Khi phản ánh chuyển đổi xanh, cần làm rõ điều kiện kỹ thuật, nguồn lực thực hiện và những nhóm chịu chi phí. Khi phản ánh một mô hình phát triển địa phương, cần đặt kết quả kinh tế cạnh các vấn đề môi trường, hạ tầng và chất lượng sống. Những câu hỏi ấy làm cho khái niệm lớn có nội dung kiểm tra được.

Vì thế, định hướng nhận thức không phải giản lược những vấn đề phức tạp thành một cách giải thích duy nhất. Đó là tổ chức thông tin theo mức độ đã được xác nhận, làm rõ những giả định và trình bày các phương án trong phạm vi có căn cứ. Tòa soạn cần có năng lực lựa chọn nguồn, đặt câu hỏi tiếp nối và biên tập ngôn ngữ chuyên môn mà không làm sai nghĩa. Kết quả gần nhất là công chúng phân biệt được dữ kiện với nhận định, mục tiêu với kết quả, khả năng với cam kết; từ đó có điều kiện tham gia thảo luận một cách chủ động hơn.

Hai là, năng lực phát hiện vấn đề, dự báo và hình thành nghị trình thảo luận về phát triển.

Một vấn đề có ý nghĩa phát triển có thể xuất hiện từ những dấu hiệu phân tán: Phản ánh của người dân, thay đổi trong dữ liệu, khác biệt giữa các địa bàn hoặc khoảng cách giữa quy định và cách thực hiện. Năng lực phát hiện là khả năng kết nối các dấu hiệu ấy thành câu hỏi có cơ sở. Báo chí không chỉ tìm sự việc bất thường mà còn nhận diện điều bình thường kéo dài nhưng gây chi phí xã hội. Muốn vậy, tòa soạn cần tích lũy hồ sơ, duy trì mạng lưới nguồn tin và có khả năng kiểm tra sự tương đồng, khác biệt giữa các trường hợp.

Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ và năng lực giải quyết vấn đề như những thước đo quản trị (10). Vận dụng vào báo chí, một tuyến phản ánh về thủ tục không nên dừng ở nhận định chung rằng người dân gặp khó khăn. Cần xác minh khó khăn nằm ở điều kiện tiếp cận, quy trình, dữ liệu hay phối hợp; phân biệt quy định không phù hợp với việc thực hiện chưa đúng. Giá trị kiến tạo nằm ở việc làm cho nguyên nhân và điểm cần xử lý rõ hơn, thay vì chỉ làm tăng mức độ chú ý.

Dự báo trong báo chí cần được hiểu là nhận diện xu hướng, kịch bản và tín hiệu rủi ro bằng căn cứ có thể kiểm tra, không phải dự đoán chắc chắn tương lai. Tòa soạn có thể kết nối dữ liệu chuyên ngành với khảo sát thực địa để đặt vấn đề sớm về chuyển dịch việc làm, nhu cầu học tập hoặc áp lực môi trường. Mỗi nhận định phải nêu điều kiện, phạm vi và giới hạn. Nghị trình thảo luận được hình thành khi những vấn đề có ý nghĩa công cộng được theo dõi có hệ thống, kể cả sau khi chúng không còn là tin nóng.

Ba là, năng lực giám sát, phản biện và thúc đẩy trách nhiệm giải trình trong quá trình phát triển.

Nếu năng lực phát hiện giúp xác định vấn đề nào cần quan tâm, thì năng lực giám sát và phản biện làm rõ cam kết, phương án và hành động được thực hiện ra sao. Đây là khả năng đặt mục tiêu bên cạnh kết quả, đối chiếu lời giải thích với hồ sơ, tiếp nhận phản hồi và theo dõi việc khắc phục. Nghị quyết số 25-NQ/TW đặt truyền thông chính sách trong toàn bộ quá trình hoạch định, thực thi và đánh giá; đồng thời xác định cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm chính về truyền thông chính sách do mình đề xuất (11). Báo chí tham gia quá trình ấy bằng trách nhiệm thông tin, không nhận thay trách nhiệm quản lý.

Trong khâu hoạch định, báo chí có thể làm rõ vấn đề thực tiễn, những nhóm chịu tác động và các phương án còn khác biệt. Trong thực thi, cần theo dõi điều kiện tiếp cận, phối hợp và kết quả phục vụ. Trong đánh giá, cần quay lại với đối tượng thụ hưởng, phân biệt văn bản trả lời với thay đổi thực tế. Một phương án được chuyên gia nêu ra vẫn là kiến nghị; một cam kết xử lý vẫn cần được kiểm tra. Năng lực giám sát đòi hỏi tòa soạn duy trì những phân biệt đó nhất quán qua toàn bộ tuyến bài.

Phản biện có giá trị phát triển khi đi vào luận cứ, điều kiện thực hiện và hệ quả, không thay việc phân tích bằng suy đoán động cơ. Cần bảo đảm cơ hội giải trình, cập nhật khi có thông tin mới và sửa sai công khai. Việc chỉ ra hạn chế đồng thời phải giúp nhận diện trách nhiệm thuộc khâu nào, chủ thể nào và căn cứ nào cho việc xử lý. Sự nghiêm túc này không làm giảm tính chiến đấu của báo chí; nó làm cho hoạt động giám sát có khả năng được kiểm tra và sử dụng trong quá trình giải quyết vấn đề.

Bốn là, năng lực tổ chức tri thức, phát hiện và phổ biến sáng kiến, giải pháp phát triển.

Thông tin về một sáng kiến chỉ trở thành tri thức có thể sử dụng khi làm rõ vấn đề được giải quyết, cách thực hiện, kết quả, chi phí và điều kiện áp dụng. Năng lực này đòi hỏi báo chí vượt khỏi việc kể một câu chuyện thành công để giúp công chúng hiểu vì sao và trong hoàn cảnh nào cách làm đó có ý nghĩa. Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, liên kết nghiên cứu với ứng dụng, đào tạo và học tập suốt đời (12). Từ góc độ báo chí, đó là không gian để tổ chức sự lưu chuyển tri thức giữa các lĩnh vực.

Chẳng hạn, một bài về đổi mới sản xuất cần phân biệt kết quả đã được xác nhận với nhận định của doanh nghiệp; chỉ rõ năng lực nhân sự, chi phí và điều kiện thị trường. Một bài về bảo tồn văn hóa cần phản ánh cả vai trò của cộng đồng thực hành di sản, không chỉ giá trị khai thác du lịch. Một bài về môi trường cần làm rõ kết quả giảm tác động, không chỉ nhãn gọi "xanh". Đây là những yêu cầu phân tích, không phải sự khẳng định rằng một mô hình cụ thể đã thành công hoặc có thể nhân rộng.

Năng lực phổ biến giải pháp còn bao gồm khả năng phản ánh điều chưa đạt, trường hợp không phù hợp và những điều kiện cần bổ sung. Những giới hạn ấy giúp người đọc lựa chọn thay vì sao chép. Báo chí có thể kết nối nhà khoa học với người sử dụng tri thức, nhưng không thay thế thẩm định chuyên môn hoặc bảo chứng thương mại. Sự khác biệt giữa thông tin kiến tạo với quảng bá lợi ích nằm ở tính kiểm chứng, khả năng đối chiếu và việc dành chỗ cho những câu hỏi chưa có lời giải.

Năm là, năng lực tổ chức đối thoại, kết nối các chủ thể và mở rộng sự tham gia của Nhân dân.

Đối thoại có chất lượng không chỉ là tập hợp nhiều phát biểu, mà là tạo điều kiện để những chủ thể có trải nghiệm, tri thức và lợi ích khác nhau cùng làm rõ một vấn đề. Nghị quyết Đại hội XIV xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới; việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và sự hài lòng của Nhân dân được đặt trong hệ mục tiêu phát triển (13). Với báo chí, cách tiếp cận này đặt người dân ở vị trí người tham gia cung cấp tri thức, chất vấn và kiểm tra kết quả, không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin.

Năng lực tổ chức đối thoại thể hiện trước hết ở việc lựa chọn đúng câu hỏi và đúng thành phần. Bên cạnh cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp, cần có những người trực tiếp chịu tác động, kể cả nhóm khó tiếp cận diễn đàn số. Nội dung trao đổi cần dựa trên tài liệu nền, phân biệt sự kiện với đề xuất và nêu rõ điều còn chưa thống nhất. Quy mô sự kiện, số người tham dự hoặc mức độ lan truyền không đủ cho thấy chất lượng đối thoại nếu các vấn đề quan trọng bị bỏ qua.

Sau đối thoại, nhiệm vụ báo chí chưa kết thúc ở bản tin tổng thuật. Tòa soạn cần hệ thống hóa những vấn đề đã làm rõ, câu hỏi cần tiếp tục xác minh, kiến nghị cần cơ quan có thẩm quyền trả lời và diễn biến xử lý. Kết nối nguồn lực ở đây trước hết là kết nối thông tin, tri thức, trách nhiệm và nhu cầu hợp tác; không phải báo chí lựa chọn nhà đầu tư hoặc quyết định phân bổ vốn. Đồng thuận bền vững, khi hình thành, phải có cơ sở từ hiểu biết và khả năng tham gia, không từ việc lược bỏ mọi khác biệt.

Sáu là, năng lực bồi đắp niềm tin có cơ sở, các giá trị phát triển và khả năng thích ứng xã hội.

Niềm tin cần được phân biệt với tâm lý lạc quan. Công chúng có thể tin một cơ quan báo chí hơn vì thông tin cảnh báo chính xác, đồng thời thận trọng hơn trước một cơ hội cụ thể. Giá trị kiến tạo nằm ở khả năng giúp người đọc nhận biết điều đáng tin và cách kiểm tra, không nằm ở việc bảo đảm họ luôn đánh giá tương lai thuận lợi. Trong toàn bộ quá trình đổi mới nền báo chí, "phải đặt công chúng ở vị trí trung tâm. Công chúng số hiện nay không chỉ tiếp nhận thông tin mà thường xuyên phản hồi, đặt câu hỏi, kiểm chứng ngược, góp ý, cung cấp dữ liệu và đòi hỏi báo chí minh bạch hơn" (14).

Bồi đắp giá trị phát triển cần được thể hiện qua những câu chuyện và phân tích về trách nhiệm, tinh thần học hỏi, sáng tạo, hợp tác, tôn trọng pháp luật và bảo vệ môi trường sống. Nghị quyết số 18-NQ/TW gắn xây dựng con người với năng lực số, khả năng thích ứng, trách nhiệm xã hội và cơ hội phát triển toàn diện (15). Báo chí có thể làm rõ những giá trị đó qua cách con người giải quyết vấn đề, chia sẻ tri thức và chịu trách nhiệm về lựa chọn, thay vì chỉ sử dụng những lời cổ vũ khái quát.

Khả năng thích ứng xã hội còn phụ thuộc vào việc nhận diện rủi ro trước khi chúng trở thành tổn thất. Báo chí cần trình bày cảnh báo có căn cứ, diễn giải mức độ không chắc chắn và giúp công chúng phân biệt thông tin sai với tranh luận hợp lý. Thông tin đối ngoại cũng thuộc phạm vi này: Giải thích hình ảnh Việt Nam bằng dữ liệu, bối cảnh và câu chuyện có thể kiểm chứng, đồng thời tiếp nhận tri thức từ bên ngoài. Năng lực hội nhập không chỉ là dịch nội dung sang ngôn ngữ khác mà còn là hiểu câu hỏi của những cộng đồng công chúng khác nhau.

Về phương diện năng lực bảo đảm: Phẩm chất nghề nghiệp, tổ chức, nhân lực, dữ liệu, công nghệ và nguồn lực phát triển.

Sáu nhóm năng lực trên chỉ có thể được thực hiện bền vững khi tòa soạn có khả năng xác lập ưu tiên, phân công trách nhiệm, huy động chuyên môn và duy trì chuẩn mực. Bản lĩnh chính trị trong phạm vi nghiên cứu cần được gắn với hiểu biết về định hướng phát triển, lợi ích quốc gia, trách nhiệm xã hội và khả năng giữ vững yêu cầu trung thực trước sức ép. Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện bằng cách lựa chọn nguồn, bảo vệ người cung cấp thông tin, xử lý xung đột lợi ích, cải chính và chịu trách nhiệm về nội dung.

Dữ liệu và công nghệ là điều kiện quan trọng, nhưng chỉ trở thành năng lực khi được tích hợp vào phương thức làm việc. Chuyển đổi số phải là "cuộc đổi mới toàn diện về tư duy lãnh đạo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân phối nội dung, đo lường công chúng, kinh tế báo chí và văn hóa nghề nghiệp" (16). Một tòa soạn có kho dữ liệu nhưng thiếu người quản trị, thiếu quy tắc kiểm chứng hoặc không biết đặt câu hỏi vẫn chưa có năng lực sử dụng dữ liệu cho kiến tạo phát triển. Ở cấp hệ thống, năng lực báo chí còn phụ thuộc vào điều kiện tiếp cận thông tin, sự bảo vệ tác nghiệp đúng pháp luật, hạ tầng dùng chung, đào tạo và cơ chế phản hồi của các chủ thể.

2.4. Năng lực kiến tạo phát triển của báo chí trong cấu trúc mô hình phát triển mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định bảy mô hình thành phần trên các lĩnh vực kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng - an ninh; đối ngoại, hội nhập quốc tế; và quản trị quốc gia (17). Có thể xem đây là trục lĩnh vực, còn sáu nhóm năng lực báo chí là trục chức năng. Hai trục giao nhau tạo thành một ma trận phân tích, qua đó "kiến tạo phát triển" được nhận diện như cách các năng lực nghề nghiệp được vận hành trong từng bài toán phát triển cụ thể.

Một là, trong đổi mới thể chế và quản trị quốc gia, báo chí góp phần làm cho quá trình chính sách trở nên dễ hiểu, có thể kiểm tra và có phản hồi. Giá trị kiến tạo thể hiện ở việc phát hiện khoảng cách giữa quy định và thực tiễn, phản ánh trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp, chuyên gia và theo dõi cách cơ quan có thẩm quyền xử lý vấn đề. Báo chí không quyết định thay Nhà nước, nhưng có thể nâng cao chất lượng thông tin trong chu trình hoạch định, thực thi, đánh giá, qua đó hỗ trợ giám sát, phản biện và trách nhiệm giải trình.

Hai là, đối với mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ và hội nhập, báo chí tạo giá trị chủ yếu thông qua tổ chức tri thức và làm rõ điều kiện của các chuyển đổi phát triển. Một công nghệ, mô hình kinh doanh hay dự án đầu tư chỉ có ý nghĩa phát triển khi được đặt trong quan hệ với năng suất, khả năng hấp thụ công nghệ, sử dụng nguồn lực, tác động môi trường và mức độ lan tỏa. Vì vậy, đóng góp khác biệt của báo chí nằm ở khả năng chuyển thông tin kinh tế thành tri thức giúp công chúng hiểu cách giá trị được tạo ra, năng lực nào được hình thành và rủi ro nào cần được quản trị.

Ba là, đối với mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững, năng lực kiến tạo thể hiện ở việc làm cho những hệ quả xã hội của phát triển được nhận diện đầy đủ. Báo chí cần phản ánh không chỉ kết quả chung mà cả mức độ tiếp cận dịch vụ, khả năng thích ứng của người lao động, khoảng cách số và điều kiện của các nhóm dễ bị bỏ lại phía sau. Năng lực đối thoại đặc biệt quan trọng vì tri thức về phát triển không chỉ nằm trong văn bản chính sách mà còn nằm trong trải nghiệm của người chịu tác động.

Bốn là, đối với phát triển văn hóa và con người, báo chí tham gia kiến tạo thông qua việc hình thành không gian giá trị, tri thức và học hỏi xã hội. Các nội dung về học tập suốt đời, tinh thần đổi mới, trách nhiệm công dân, văn hóa pháp luật, đạo đức kinh doanh hay bảo tồn bản sắc chỉ có sức thuyết phục khi gắn với hành vi, kết quả và bối cảnh cụ thể. Vì vậy, bồi đắp niềm tin và giá trị phát triển phải dựa trên sự thật, khả năng giải thích và tính nhất quán của chính hoạt động báo chí.

Năm là, đối với mô hình phát triển môi trường sinh thái bền vững, báo chí cần kết hợp năng lực cảnh báo rủi ro với năng lực tổ chức tri thức khoa học. Các vấn đề môi trường thường có chu kỳ dài, dữ liệu phức tạp và phân bố chi phí, lợi ích không đồng đều. Báo chí cần làm rõ mức độ chắc chắn của dữ liệu, phạm vi tác động, trách nhiệm của các chủ thể và điều kiện của giải pháp; nhất là trong chuyển đổi xanh, nơi lợi ích dài hạn có thể đi cùng chi phí ngắn hạn đối với một số nhóm xã hội.

Sáu là, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và bảo đảm sức chống chịu quốc gia, giá trị kiến tạo của báo chí gắn với thông tin chính xác, kịp thời, có trách nhiệm và khả năng củng cố niềm tin xã hội trước rủi ro. Trong các tình huống khủng hoảng, thiên tai, dịch bệnh hoặc các thách thức an ninh phi truyền thống, báo chí cần phát huy năng lực xác minh, giải thích bối cảnh, phân biệt dữ kiện với suy đoán và truyền tải thông tin chính thống dễ hiểu. Đóng góp cốt lõi là duy trì một môi trường thông tin đáng tin cậy, hỗ trợ năng lực phòng ngừa, thích ứng và phục hồi của cộng đồng.

Bảy là, đối với đối ngoại và hội nhập quốc tế, năng lực kiến tạo phát triển thể hiện ở khả năng vừa đưa tri thức thế giới vào Việt Nam, vừa giải thích Việt Nam với thế giới bằng dữ liệu và ngôn ngữ có sức thuyết phục. Thông tin đối ngoại không chỉ là chuyển ngữ nội dung trong nước; tương tự, tiếp nhận kinh nghiệm quốc tế cũng không phải là sao chép mô hình. Báo chí cần làm rõ bối cảnh, điều kiện thể chế, văn hóa và mức độ tương thích, qua đó mở rộng không gian tri thức và đối thoại của quốc gia, góp phần nâng cao năng lực hội nhập và sức mạnh mềm.

Ma trận giữa sáu nhóm năng lực báo chí và các cấu phần của mô hình phát triển mới cho thấy cùng một năng lực có thể tạo giá trị khác nhau tùy lĩnh vực, còn một bài toán phát triển thường cần nhiều năng lực cùng vận hành.

2.5. Một số điều kiện phát huy năng lực kiến tạo phát triển của báo chí trong giai đoạn mới

Khung năng lực chỉ có ý nghĩa khi đặt trong những điều kiện thể chế và tổ chức phù hợp. Những điều kiện dưới đây là nền tảng để năng lực kiến tạo có thể hình thành, được duy trì và được kiểm chứng.

Một là, bảo đảm môi trường thông tin minh bạch, có khả năng phản hồi và gắn truyền thông với vòng đời chính sách. Nghị quyết số 25-NQ/TW đặt yêu cầu truyền thông chính sách đi trước một bước, từ sớm, từ xa, xuyên suốt hoạch định - thực thi - đánh giá, đồng thời nhấn mạnh đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội (18). Khả năng tiếp cận thông tin và cơ chế trả lời có trách nhiệm vì thế là điều kiện bên ngoài quan trọng của năng lực báo chí.

Hai là, hình thành hạ tầng tri thức và chuyên môn hóa đủ sâu trong cơ quan báo chí. Mô hình phát triển mới chứa nhiều vấn đề liên ngành. Tòa soạn cần có dữ liệu có thể truy nguyên, hồ sơ theo vấn đề, mạng lưới chuyên gia và cơ chế để tri thức cá nhân trở thành tài sản của tổ chức. Đây là điều kiện để tác nghiệp không bắt đầu lại từ đầu sau mỗi sự kiện.

Ba là, bảo đảm tính liêm chính nghề nghiệp và mức độ tự chủ cần thiết trước sức ép kinh tế, công nghệ và nền tảng. Công chúng, dữ liệu, kiểm chứng và kinh tế báo chí cần được đặt trong cùng một quá trình đổi mới (19). Điều đó đòi hỏi ranh giới rõ giữa quyết định biên tập và lợi ích thương mại; công nghệ hỗ trợ chứ không thay thế trách nhiệm nghề nghiệp; nền tảng số là kênh phân phối nhưng không quyết định chuẩn mực thông tin.

Bốn là, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo và đánh giá để kiểm định năng lực thay vì chỉ khẳng định vai trò. Chiến lược chuyển đổi số báo chí đã đặt ra yêu cầu đào tạo kỹ năng số, phân tích dữ liệu và xây dựng chỉ số đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số (20). Nghiên cứu về năng lực kiến tạo phát triển cần tiến thêm một bước bằng việc xây dựng, thử nghiệm và kiểm định bộ chỉ báo trên các loại hình cơ quan báo chí và lĩnh vực phát triển khác nhau.

3. Kết luận

Năng lực kiến tạo phát triển của báo chí là cách tiếp cận nhằm giải thích báo chí có thể đóng góp vào quá trình phát triển bằng chính các chức năng nghề nghiệp của mình. Điểm cốt lõi không phải bổ sung một sứ mệnh ngoài phạm vi báo chí, mà là khả năng tổ chức thông tin, tri thức, giám sát, phản biện và đối thoại thành những điều kiện giúp xã hội nhận diện và giải quyết vấn đề tốt hơn. Đặt sáu nhóm năng lực vào các cấu phần của mô hình phát triển mới tạo ra một ma trận nghiên cứu có khả năng mở rộng: Cùng một vấn đề có thể đòi hỏi nhiều năng lực báo chí, còn cùng một năng lực có thể tạo giá trị khác nhau tùy bối cảnh. Hướng nghiên cứu tiếp theo là cụ thể hóa các chỉ báo, thử nghiệm trên những loại hình cơ quan báo chí và lĩnh vực phát triển khác nhau, từ đó làm rõ điều kiện để báo chí Việt Nam thực sự trở thành một nguồn lực thông tin và tri thức có giá trị trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

(1), (13) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, ngày 23-1-2026; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang2.html

(2), (9), (10), (12), (17) Xem: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, "Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam"; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-19-nq-tw-ngay-28-7-2026-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-doi-moi-mo-hinh-phat.html

(3), (15) Xem: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28-7-2026, "Về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển"; https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-18-nq-tw-ngay-28-7-2026-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-xay-dung-xa-hoi-ky-c.html

(4), (11), (18) Xem: Bộ Chính trị: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22-8-2026, "Về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới"; toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 17-9-2026, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-25-nq-tw-ngay-22-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-chien-luoc-cong-tac-tu-tuong-trong-boi-canh-moi.html

(5), (14), (16), (19) Xem: GS, TS. Tô Lâm: "Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số", Báo Nhân Dân, ngày 18-6-2026, https://nhandan.vn/special/baochi-cachmang-VN-trongthoidaiso/index.html

(6) Xem: United Nations Development Programme (UNDP): Capacity Development: A UNDP Primer (Tạm dịch: Phát triển năng lực: Tài liệu nhập môn của UNDP), New York, 2009, tr. 11, 53 - 54, https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/publications/CDG_PrimerReport_final_web.pdf

(7) Xem: Peter Bro: "Constructive journalism: Proponents, precedents, and principles" (Tạm dịch: Báo chí kiến tạo: Những người đề xướng, tiền đề và nguyên tắc), Journalism, tập 20, số 4, 2019, tr. 504 - 519, DOI: 10.1177/1464884918770523; bản thảo được chấp nhận đăng lưu tại Đại học Nam Đan Mạch, https://portal.findresearcher.sdu.dk/en/publications/constructive-journalism-proponents-precedents-and-principles/

(8) Xem: UNESCO: Journalism is a public good: World trends in freedom of expression and media development; Global report 2021/2022 (Tạm dịch: Báo chí là một hàng hóa công: Xu hướng thế giới về tự do biểu đạt và phát triển truyền thông; Báo cáo toàn cầu 2021/2022), 2022; phần giới thiệu báo cáo "Journalism is a public good" trên trang UNESCO, ngày 19-4-2022, https://www.unesco.org/en/articles/journalism-public-good

(20) Xem: Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 348/QĐ-TTg, ngày 6-4-2023, phê duyệt Chiến lược "Chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"; https://vanban.chinhphu.vn/?docid=207701&pageid=27160

Nguyễn Phương Chi

Viện Chính trị, Hành chính và Chính sách công