Đại diện của các đơn vị tham gia Hội thảo thảo luận
Hội thảo được tổ chức nhằm
mục đích xác định các nguồn cung gỗ nguyên liệu nhập khảu rủi ro cao và xu hướng thay đổi các nguồn cung này trong tương lai; Xác định vai trò của các nguồn cung này trong bức tranh chung về tổng cung nguyên liệu nhập khẩu cho ngành gỗ hiện nay từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm loại bỏ nguồn cung rủi ro cao từ nhập khẩu. Ngoài ra, Hội thảo cũng đã đánh giá về tác động của việc loại bỏ các nguồn cung gỗ nhập khẩu đối với xuất khẩu và thị trường nội địa thông qua đó kiến nghị các giải pháp thay thế nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cục của việc loại bỏ nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu rủi ro cao tới các bên liên quan.
Hiện này ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã và đang giữ một vị trí quan trọng trong số các nước cung gỗ và sản phẩm gỗ trên thế giới. Thương hiệu Gỗ Việt đã dần được hình thành và phát triển, tạo nền tảng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu. Năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt gần 7 tỉ USD. Với con số này, gỗ và sản phẩm gỗ đã nằm trong số các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của cả nước. Hiện nhiều sản phẩm gỗ của Việt Nam đang được tiêu thụ tại các thị trường thế giới, trong đó Hoa Kỳ và EU là 2 trong số các thị trường quan trọng nhất. Năm 2016 kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam vào 2 thị trường này chiếm 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Xuất khẩu vào 2 thị trường này vẫn có xu hướng tăng, đặc biệt từ Hoa Kỳ.
Gỗ nguyên liệu nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với sự lớn mạnh của ngành gỗ. Bình quân mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 4-4,5 triệu m3 gỗ quy tròn, tương đương với 1,8-2 tỉ USD về kim ngạch. Gỗ nhập khẩu không chỉ đa dạng về nguồn nhập khẩu mà còn qua chủng loại và các loài nhập khẩu. Khoảng 150-160 loài gỗ khác nhau, bao gồm các loài gỗ nhiệt đới (rừng tự nhiên), các loài gỗ rừng trồng và/hoặc các loài gỗ ôn đới được nhập khẩu vào Việt Nam mỗi năm.
Hoa Kỳ và EU không chỉ quan trọng về mặt là thị trường tiêu thụ các mặt hàng gỗ của Việt Nam mà còn là nguồn cung gỗ nguyên liệu rất lớn cho ngành gỗ. Hàng năm, lượng gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ Hoa Kỳ và EU vào Việt Nam lên tới trên 1 triệu m3 gỗ quy tròn, tương đương với 30-35% trong tổng gỗ nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2016 Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,4 triệu m3 gỗ quy tròn từ 2 thị trường này. Gỗ nhập khẩu từ các nguồn này được đưa vào chế biết, và xuất khẩu ngược trở lại các quốc gia này ở dạng sản phẩm tinh chế.
Mặc dù ngành chế biến gỗ xuất khẩu đang tiếp tục được mở rộng, hội nhập thị trường quốc tế luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, có nguy cơ tác động tiêu cực trực tiếp đến hình ảnh của ngành gỗ Việt trong tương lai. Một trong những rủi ro vô cùng lớn mà ngành gỗ thường phải đối mặt là sự pha trộn các nguồn gỗ nguyên liệu được coi là có rủi ro cao về pháp lý, thường có nguồn gốc từ khu vực như Tiểu vùng sông Mê Kông, với các nguồn gỗ nguyên liệu sạch, được nhập khẩu từ các quốc gia như Hoa Kỳ và EU. Mặc dù chuỗi cung của các nguồn nguyên liệu này khác nhau, trên bình diện quốc gia, sử dụng nguồn cung gỗ nguyên liệu có rủi ro có tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh của ngành gỗ Việt trên trường Quốc tế. Trong bối cảnh nguồn cung gỗ Hội nhập càng sâu rộng thì các rủi ro này càng lớn. Loại bỏ hoàn toàn nguồn cung gỗ nguyên liệu có rủi ro cao sẽ góp phần trực tiếp vào việc xây dựng và phát triển hình ảnh và thương hiệu ngành gỗ Việt với cộng đồng quốc tế.
Chính phủ Việt Nam và EU đã hoàn thành việc đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyên (VPA) trong khuôn khổ của Chương trình Thực thi Luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT) do EU khởi xướng. Áp dụng VPA trong tương lai đòi hỏi tất cả các sản phẩm gỗ được xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trường nội địa phải là các sản phẩm hợp pháp, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về môi trường, xã hội và kinh tế. Điều này có nghĩa rằng các nguồn gỗ nguyên liệu có rủi ro cao sẽ khó có khả năng đáp ứng được các yêu cầu mới trong bối cảnh VPA được áp dụng và sẽ bị loại khỏi chuỗi cung. Loại bỏ các nguồn gỗ nguyên liệu có rủi ro cao không phải chỉ là yêu cầu cấp bách, giúp cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu và hình ảnh của ngành gỗ Việt, duy trì ổn định thị trường xuất khẩu mà còn là đòi hỏi bắt buộc đối với ngành gỗ Việt Nam.
Kết thúc Hội thảo đại diện cho Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA BINH DINH) và Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) đã cùng ra tuyên bố chung về việc sử dụng, sản xuất và kinh doanh các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ:
Ủng hộ Chính phủ và các cơ quan quản lý cấp Trung ương và địa phương xây dựng, hoàn thiện và thực thi các chính sách và cơ chế phù hợp để triển khai hiệu quả Hiệp định Đối tác tự nguyện VPA FLEGTgiữa Việt Nam và EU nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới.
Ủng hộ Chính phủ và các cơ quan quản lý cấp Trung ương và địa phương phát triển cơ chế quản lý và kiểm soát chặt chẽ gỗ rừng tự nhiên; khuyến khích phát triển rừng trồng được quản lý bền vững, gỗ có đường kính lớn, tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Tuân thủ đầy đủ các quy định của các cơ quan quản lý về phát triển, khai thác, sử dụng, mua bán gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp, gỗ và sản phẩm gỗ được cấp phép CITES và FLEGT trong tương lai; thúc đẩy việc sử dụng, chế biến, sản xuất kinh doanh gỗ và sản phẩm gỗ từ rừng trồng trong nước và từ nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu hợp pháp và bền vững.
Không một Hội viên nào của các Hiệp hội tham gia vào các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến, sản xuất, kinh doanh gỗ và sản phẩm gỗ trái phép trên toàn lãnh thổ Việt Nam và tại các quốc gia cung gỗ nguyên liệu và các quốc gia tiêu thụ các mặt hàng gỗ của Việt Nam.
Cùng hợp tác xây dựng và phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu về ngành công nghiệp chế biến gỗ một cách toàn diện, công khai, minh bạch;tăng cường tính trách nhiệm giải trình trong cộng đồng doanh nghiệp, đối với các cơ quan quản lý tại Việt Nam và tuân thủ đầy đủ các quy định tại thị trường quốc tế.
PV.