1. Chính sách xã hội và thực trạng chính sách xã hội ở Việt Nam
Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, liên quan tới lợi ích và sự phát triển của con người, cộng đồng và toàn xã hội của quốc gia. Nội dung cơ bản của chính sách xã hội, gồm: chính sách việc làm; chính sách xóa đói, giảm nghèo; chính sách về sức khỏe cộng đồng, chính sách đối với người có công; chính sách an sinh xã hội; chính sách phúc lợi xã hội; chính sách đối với đồng bào dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa; các chính sách bảo đảm công bằng, bình đẳng cho người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản, thiết yếu về y tế, giáo dục, văn hóa…; chính sách đối với những người yếu thế…
Chính sách xã hội có ý nghĩa chính trị quan trọng, là một trụ cột tạo nên sự phát triển bền vững của quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn xác định chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững. Chính sách xã hội là cơ sở khẳng định thành tựu của cách mạng Việt Nam để bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua các phương tiện đã cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất và thành tựu to lớn của các chính sách xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tuyên truyền, xuyên tạc cho là: "cái gọi là thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam tự vẽ lên, tự mình khen mình, thực chất không có thật; còn đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống của nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng".
Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách an sinh xã hội, Nhà nước đã cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia và tổ chức thực hiện. Hệ thống chính sách, pháp luật về chính sách an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện tạo khuôn khổ pháp lý và khung chính sách cho các cấp, các ngành và địa phương thực hiện hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt là các chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách bảo hiểm, chính sách trợ cấp xã hội, chính sách về lao động việc làm, chính sách đối với người có công… đã thực sự góp phần tích cực nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm các mục tiêu "tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng, xã hội" của Đảng và Nhà nước.
Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững và ổn định chính trị - xã hội; thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Hệ thống pháp luật và chính sách phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng được củng cố, bổ sung và hoàn thiện. Diện được thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hưởng chính sách ngày càng nâng lên. Đảng và Nhà nước đều có chủ trương tăng nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội, tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác. Các lĩnh vực xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong công tác gia đình và bình đẳng giới.
Đời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện đáng kể, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Thực tế, Việt Nam được Liên hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong việc thực hiện một số mục tiêu Thiên niên kỷ. Kết quả to lớn đó bác bỏ những ý kiến sai trái cho rằng Đảng và Nhà nước ta không quan tâm đến các chính sách xã hội hoặc các chính sách xã hội được đề ra là không có căn cứ khoa học và không thực hiện được.
2. Giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, cần phải tập trung vào việc nhận diện cho đúng và nhận diện cho trúng và toàn diện các vấn đề xã hội mới nảy sinh trong kỷ nguyên mới.
Nhận diện đúng, đầy đủ về các vấn đề xã hội, nhất là các vấn đề mới nảy sinh thì mới có giải pháp phù hợp. Quá trình này cần ưu tiên trong hoạch định và thực hiện chính sách xã hội thích ứng với bối cảnh thế ig[í và khu vực. Nhất là "các cú sốc" của người dân và xã hội khi gặp dịch bệnh, khủng hoảng, biến đổi khí hậu, bình đẳng giới, các bệnh xã hội của kỷ nguyên công nghệ số… từ đó có các biện pháp ứng phó với tình trạng khẩn cấp, năng lực cần thiết để thích ứng với những thách thức mới. Đổi mới tư duy trong hoạch định, thiết kế, nhìn nhận chính sách xã hội. Ngân sách ưu tiên cho chính sách xã hội, dựa trên sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân, bao trùm các đối tượng được hưởng chính sách nhưng đảm bảo đa tầng, toàn diện, công bằng, hệ thống để bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội bền vững, hướng tới mục tiên an sinh xã hội toàn dân, "không ai bị bỏ lại phía sau" trong quá trình phát triển. Đồng thời, các tiêu chuẩn hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam cũng phải đáp ứng theo những chuẩn mực chung theo thông lệ quốc tế.
Thứ hai, tiếp cận tiêu chí "hạnh phúc" trong kỷ nguyên mới để xây dựng và thực hiện chính sách xã hội, lấy con người làm trung tâm trong tất cả các chính sách.
Trong kỷ nguyên mới tiếp cận hạnh phúc trong phân tích chính sách là một kênh thông tin mới bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống, giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn trong việc đưa ra những quyết sách điều hành đất nước. Bảo đảm sự đồng bộ trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, lao động và việc làm. Đưa chỉ số hạnh phúc là thước đo đúng đắn của tiến bộ của xã hội và là mục tiêu của chính sách công, trong đó có chính sách xã hội.
Chỉ số hạnh phúc quốc gia là "dự báo" cho sự phát triển toàn diện, bền vững của mỗi quốc gia. Từ việc chỉ chú trọng vào các chỉ số phát triển kinh tế, kỷ nguyên mới cần coi trọng tiêu chí hạnh phúc, các chính sách và hành động của Chính phủ cần đặt các chỉ tiêu kinh tế trong mối tương quan với các tiêu chí về an toàn, an lành, thân thiện, nhân văn, những trải nghiệm và cảm xúc tích cực bên trong của từng cá nhân trong xã hội. Điều đó giúp họ vững vàng vượt qua những thách thức, những "cú sốc" do thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bất ổn xã hội gây ra. Chỉ số hạnh phúc trở thành một đại lượng quan trọng trong đánh giá về tính hiệu quả, sự tín nhiệm, niềm tin của Nhân dân, xã hội vào đối với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ.
Thứ ba, tiếp cận xây dựng chính sách xã hội từ "cứu trợ" sang "hỗ trợ" và nâng cao năng lực cho các đối tượng yếu thế xã hội sẵn sàng, chủ động phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro.
Bảo đảm tính công bằng, bình đẳng về cơ hội, điều kiện được hưởng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho toàn dân. Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội. Xây dựng và hoàn thiện các chỉ báo mới phản ánh sự biến đổi cơ cấu xã hội phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm sự tiếp cận công bằng, bình đẳng và thụ hưởng thành quả của các giai cấp, tầng lớp xã hội, giới tính, cơ cấu lao động, cơ cấu tuổi, cơ cấu ngành nghề… Xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội…
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật để tạo khung khổ chính sách và hành lang pháp lý cho các trụ cột của hệ thống chính sách xã hội
Bổ dung, từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật để tạo khung khổ chính sách và hành lang pháp lý an sinh xã hội: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… Đồng thời, hoàn thiện hành lang pháp lý cho các vấn đề mới phát sinh, như: hoạt động từ thiện nhân đạo, cứu trợ, hỗ trợ của người dân, tổ chức và cộng đồng… Tiếp cận xây dựng và thực hiện chính sách xã hội có sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội nhằm hướng tới sự đồng thuận và cộng đồng trách nhiệm của xã hội trong ứng phó với những tình trạng khẩn cấp, bất ngờ và sự chung tay của toàn xã hội vì sự phát triển bền vững, "không ai bị bỏ lại phía sau". Tăng cường sự tham gia thực chất và chất lượng của người dân, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp vào hoạch định và thực thi chính sách xã hội.
Thứ năm, nâng cao năng lực quản trị nhà nước, năng lực của đội ngũ quản trị và đội ngũ thực thi chính sách xã hội là thích ứng với bối cảnh mới.
Chú trọng nâng cao các năng lực: hoạch định chính sách; năng lực thấu hiểu, thấu cảm; năng lực thích ứng; năng lực quản trị hệ thống, quản trị tổ chức; quản trị truyền thông cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia hoạch định và thực thi chính sách xã hội. Trong hoạch định và thực thi chính sách xã hội, cần phải thay đổi từ tư duy "quản lý" sang tư duy "phục vụ", từ tư duy "xin – cho" sang tư duy "yêu cầu – đáp ứng" và từ cách tiếp cận "nghĩa vụ" sang tiếp cận "bảo đảm quyền" của các bên liên quan. Hoạt động của Chính phủ chuyển từ vai trò là người cho phép sang vai trò là người bảo đảm, người tạo điều kiện cho các chủ thể khác có không gian sáng tạo và phát triển; chuyển từ vai trò là chủ thể trực tiếp cung ứng dịch vụ công, phân phối phúc lợi sang vai trò là người bảo đảm an sinh xã hội và cung cấp dịch vụ công cơ bản, tối thiểu.
3. Kết luận
Dù có áp đặt, vu khống đến đâu thì cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và phát huy dân chủ. Các chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay là thực tế thể hiện phát huy dân chủ với phương châm Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và từ thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, những chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay là thực tế, phù hợp với tiềm lực, khả năng của Việt Nam và là nguyện vọng của nhân dân.
Đại úy Phạm Ngọc Hà
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2012), Nghị quyết số 15-NQ/TW "Về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020", Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, ngày 01/6/2012. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Trần Hồng Quỳnh (2025), "Bảo đảm chính sách an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau", Báo Nhân dân điện tử ngày 08/8/2025. 3. Tường Duy Kiên (2024), "Chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và hội nhập quốc tế ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 12/4/2024. 5. Nguyễn Quốc Sửu (2024), "Một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội sau gần 40 năm đổi mới đất nước", Tạp chí Quản lý Nhà nước điện tử ngày 07/6/2024.