Những điểm mới về bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 1/1/2026

Thứ bảy, 26/07/2025 - 00:00

Từ ngày 1/1/2026, khi Luật Việc làm năm 2025 có hiệu lực, chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ có nhiều điều chỉnh quan trọng về mức đóng, diện tham gia, tiền lương làm căn cứ đóng...

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Điều chỉnh mức đóng

Một trong những sửa đổi quan trọng của Luật Việc làm năm 2025 là điều chỉnh mức đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Luật mới tiếp tục quy định người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng 1% lương tháng (trong giới hạn nhất định) vào quỹ BHTN. Tuy nhiên, thay vì quy định cứng 1%, Luật mới quy định mức đóng tối đa bằng 1% mức lương hoặc quỹ tiền lương tháng đóng BHTN, để Chính phủ điều chỉnh linh hoạt tùy tình hình thực tế.

Cụ thể, Luật hiện hành đã quy định: người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương của người tham gia. Luật mới giữ nguyên tỷ lệ 1% đối với cả hai phía nhưng cho phép thay đổi trong khung "tối đa 1%" này. Đồng thời, Luật mới bổ sung cơ chế khuyến khích: trong các trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm hay kết dư quỹ lớn, Chính phủ được giao quyền giảm mức đóng hoặc hỗ trợ tiền cho người lao động để kịp thời hỗ trợ thị trường lao động.

Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Việc làm sửa đổi là mở rộng phạm vi bắt buộc tham gia BHTN. Luật hiện hành quy định bắt buộc tham gia BHTN với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (không xác định thời hạn, xác định thời hạn) hoặc hợp đồng theo mùa vụ/công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng. Những trường hợp ngắn hạn dưới 3 tháng không phải đóng BHTN.

Trong khi đó, Luật sửa đổi mở rộng bao gồm thêm nhiều nhóm lao động trước đây chưa bắt buộc. Cụ thể, các đối tượng mới được bổ sung là: lao động ký hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng; lao động có hợp đồng không xác định thời hạn (hoặc loại hợp đồng khác) nhưng hưởng lương hàng tháng bằng hoặc cao hơn mức lương cơ sở (theo Luật BHXH 2024).

Ngoài ra, Luật mới quy định thụ lý tham gia BHTN cả những trường hợp làm việc có trả lương theo hình thức khác (theo thỏa thuận bằng tên gọi khác) nhưng có sự quản lý, giám sát của một bên. Nói cách khác, nếu hình thức hợp đồng lao động không truyền thống nhưng vẫn trả lương và có tính chất lao động, người lao động đó sẽ được tính tham gia bảo hiểm. Ngoài các nhóm nêu trên, Luật giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định mở rộng thêm đối tượng BHTN khác trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, nhằm từng bước đạt mục tiêu khoảng 45% lực lượng lao động tham gia BHTN vào năm 2030.

Căn cứ và mức tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm thất nghiệp

Luật Việc làm sửa đổi tiếp tục quy định căn cứ đóng BHTN là tiền lương tháng thực trả (được xác định theo quy định của Luật BHXH). Theo đó, người lao động thuộc "chế độ tiền lương của Nhà nước" (cán bộ, công chức, viên chức) thì tiền lương đóng BHTN là tiền lương theo ngạch, bậc lương và các khoản phụ cấp đặc thù được tính trên mức lương cơ sở. Đối với lao động "chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định" (đóng góp theo hợp đồng lao động thông thường), tiền lương đóng BHTN gồm mức lương chính theo hợp đồng (thang bảng lương của DN) và các phụ cấp lương có tính tiền cụ thể (phụ cấp chức vụ, tiền thưởng, phụ cấp lưu trữ, v.v.). Như vậy, tiền lương tính đóng BHTN giữa khu vực công và tư cơ bản không đổi: khu vực công căn cứ theo hệ thống lương của Nhà nước, khu vực tư theo thỏa thuận và các phụ cấp liên quan.

Về mức trần tiền lương làm căn cứ đóng BHTN, Luật sửa đổi vẫn duy trì quy định hiện hành là gấp 20 lần mức lương cơ sở (với lao động trả lương theo bảng lương Nhà nước) hoặc gấp 20 lần mức lương tối thiểu vùng (với lao động trả lương theo thỏa thuận của doanh nghiệp). Cụ thể, nếu người lao động hưởng lương theo chế độ của Nhà nước thì trường hợp lương thực trả vượt 20 tháng lương cơ sở sẽ được tính tối đa ở mức 20 tháng lương cơ sở; còn người lao động hưởng lương theo hợp đồng lao động nếu vượt 20 tháng lương tối thiểu vùng sẽ tính ở mức 20 tháng lương tối thiểu vùng. Như vậy, Luật mới cụ thể hóa khái niệm tiền lương đóng BHTN tương tự Luật cũ, đồng thời đảm bảo giữ nguyên cơ chế trần như hiện hành.

Bổ sung quy định về đăng ký và cơ sở dữ liệu lao động

Một điểm mới hoàn toàn của Luật sửa đổi là hệ thống đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu quốc gia về người lao động.

Luật sửa đổi quy định về đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu người lao động, được kết nối và đồng bộ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác.

Thông tin đăng ký lao động gồm: Tên họ, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc; nơi ở hiện tại; trình độ gồm giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, chứng chỉ kỹ năng nghề và các chứng chỉ khác; tình trạng và nhu cầu về việc làm; nhóm thông tin về BHXH, BHTN; đặc điểm, đặc thù của người đăng ký.

Cơ sở dữ liệu về người lao động được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất toàn quốc theo quy định của pháp luật về dữ liệu. Chính phủ sẽ quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục, nơi đăng ký lao động, tiếp nhận, kết nối, chia sẻ và sử dụng cơ sở dữ liệu này.

Các chế độ hỗ trợ bảo hiểm thất nghiệp

Luật Việc làm hiện hành quy định bốn chế độ BHTN:

Thứ nhất, chế độ hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề (trước đây gọi là "học nghề") được nâng cấp. Người lao động thất nghiệp không chỉ được hỗ trợ chi phí đào tạo nghề mà còn được hỗ trợ thêm khoản tiền ăn sinh hoạt trong thời gian học tập nâng cao trình độ, kỹ năng. Điều này nhằm giảm bớt khó khăn về kinh tế cho người học nghề, góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo và nhanh chóng quay lại thị trường lao động. Ngoài ra, Luật mở rộng quyền lợi cho người sử dụng lao động: doanh nghiệp thuê người lao động thất nghiệp được hỗ trợ đào tạo nghề với điều kiện dễ dàng hơn (bỏ một số yêu cầu khó khăn về thay đổi cơ cấu hoặc thiếu kinh phí) để giảm thiểu rủi ro mất việc trong các giai đoạn khó khăn.

Thứ hai, về trợ cấp thất nghiệp, Luật mới quy định rõ: nếu người lao động chấm dứt việc làm để nghỉ hưu thì sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp nữa (quy định này trước đây cũng đã có tại các thông tư, nay được ghi rõ trong luật). Đồng thời, thời gian chờ đợi để được nhận trợ cấp đã rút ngắn từ 15 ngày làm việc xuống còn 10 ngày làm việc kể từ khi nộp đủ hồ sơ. Nhờ đó, người lao động sẽ nhận tiền trợ cấp sớm hơn (sớm hơn 5 ngày so với quy định hiện hành).

Thứ ba, chế độ tư vấn, giới thiệu việc làm vẫn được duy trì theo Luật cũ. Đây là dịch vụ thiết yếu giúp người lao động có công ăn việc làm mới, đặc biệt khi thị trường lao động có biến động. Luật sửa đổi khẳng định tiếp tục tổ chức dịch vụ việc làm công theo quy định chung, đồng thời liên thông với cơ sở dữ liệu lao động mới để nâng cao hiệu quả tư vấn.

Ngoài ra, nhằm phản ánh chính sách hỗ trợ linh hoạt, kịp thời trong khủng hoảng, Luật Việc làm sửa đổi cho phép Chính phủ căn cứ tình hình thực tế và kết dư Quỹ BHTN để giảm mức đóng, hỗ trợ bằng tiền hoặc trợ cấp khác trong những trường hợp khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh… Chính phủ cũng có thể điều chỉnh mức hưởng trợ cấp thất nghiệp (tối đa 60% mức lương đóng) cho phù hợp khi cần thiết, tuy mức chuẩn Luật vừa thông qua hiện vẫn là 60% trung bình lương 6 tháng đóng gần nhất.

Ngoài ra tại Luật Việc làm sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý, giám sát chi tổ chức và hoạt động BHTN, quản lý quỹ và hoạt động đầu tư quỹ BHTN; bổ sung quy định cụ thể về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHTN của cơ quan BHXH, tổ chức dịch vụ việc làm công để làm căn cứ pháp lý trong tổ chức thực hiện.

Như vậy, Luật Việc làm (sửa đổi) có nhiều điểm mới, mang lại ý nghĩa và tác động tích cực đối với thị trường lao động và người lao động. Các điểm mới này hướng tới mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia BHTN, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nâng cao kỹ năng nghề, và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, đặc biệt là lao động phi chính thức. Điều này giúp tăng cường lưới an sinh xã hội nói chung và bảo vệ, giảm thiểu rủi ro cho người lao động khi mất việc làm nói riêng.