Phát triển năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thông qua đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo khung năng lực, đáp ứng yêu cầu hiện nay

Thứ ba, 03/11/2026 - 15:00

Tóm tắt: Bài viết tiếp cận phát triển năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã từ yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng dựa trên khung năng lực. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài cấp tỉnh tại Thanh Hóa, với 1.200 phiếu khảo sát, 72 phiếu phỏng vấn sâu và dữ liệu về vận hành chính quyền địa phương hai cấp, nghiên cứu nhận diện khoảng cách giữa yêu cầu vị trí việc làm với năng lực thực hành của đội ngũ. Kết quả cho thấy nền tảng thực thi nhiệm vụ cơ bản được bảo đảm nhưng còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và xử lý tình huống phức tạp.

Bài viết đề xuất mô hình gắn kết khung năng lực, đánh giá nhu cầu, thiết kế chương trình, thực hành tình huống và đánh giá sau bồi dưỡng; đồng thời xác định trách nhiệm của cơ quan sử dụng công chức, cơ sở đào tạo và người học.

Từ khóa: năng lực xử lý tình huống; khung năng lực; đào tạo, bồi dưỡng; cán bộ, công chức cấp xã; Thanh Hóa.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới tổ chức bộ máy, yêu cầu nâng cao năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã ngày càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, từ ngày 01/7/2025, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức phối hợp ở cấp xã, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực nhận diện, phân tích, dự báo, tham mưu và xử lý tình huống công vụ. Sự đa dạng về địa bàn và lĩnh vực quản lý tại Thanh Hóa càng đòi hỏi phát triển năng lực phù hợp với từng vị trí việc làm và nhóm tình huống.

Theo báo cáo thực trạng, cấp xã đảm nhiệm khoảng 1.060 nhiệm vụ và 463 thủ tục hành chính. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực thực hành, đáp ứng yêu cầu tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài "Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay", bài viết tập trung luận giải việc vận dụng khung năng lực để đổi mới đào tạo, bồi dưỡng; trong đó, chuẩn hóa khung năng lực và đổi mới đào tạo, bồi dưỡng là hai giải pháp trọng tâm, gắn kết với sáu nhóm giải pháp còn lại [1], [2].

2. Cơ sở tiếp cận, dữ liệu và cấu trúc khung năng lực

Năng lực xử lý tình huống công vụ được hiểu là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức pháp luật, chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ và trách nhiệm để nhận diện, phân tích, dự báo, xây dựng phương án, phối hợp tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá việc giải quyết vấn đề phát sinh theo đúng chức năng, thẩm quyền. Năng lực vì thế không đồng nhất với bằng cấp hoặc chứng chỉ; biểu hiện trực tiếp qua hành vi, sản phẩm và chất lượng xử lý công việc. Khung năng lực là hệ thống các nhóm năng lực thành phần, mức độ cần đạt và biểu hiện có thể quan sát, kiểm chứng theo nhóm vị trí việc làm [3].

Kết quả đề tài được thu thập tại 12 huyện, thị xã, thành phố theo địa giới tại thời điểm khảo sát, thuộc ba khu vực miền núi, đồng bằng, ven biển, với 1.200 phiếu gồm 600 phiếu cán bộ, công chức cấp xã tự đánh giá và 600 phiếu đánh giá từ người dân, đại diện doanh nghiệp, bí thư chi bộ, trưởng thôn và nhóm chủ thể liên quan; đồng thời thực hiện 72 phiếu phỏng vấn sâu. Bài viết phân tích, so sánh các nguồn dữ liệu, không gộp tỷ lệ giữa các nhóm mẫu.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, khung năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã cần được xây dựng theo hướng tích hợp bốn thành tố cơ bản: (1) Kiến thức, bao gồm kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhà nước, làm nền tảng cho việc nhận diện, phân tích và giải quyết tình huống; (2) Kỹ năng, thể hiện ở khả năng thu thập, xử lý thông tin, nhận diện, phân tích, dự báo, xây dựng và tổ chức thực hiện phương án, huy động nguồn lực, phối hợp, giao tiếp, đối thoại, ứng dụng công nghệ số, kiểm soát, kiểm tra và đánh giá kết quả xử lý tình huống; (3) Thái độ, thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, sự chủ động, khách quan, công tâm, ý thức chấp hành pháp luật và thái độ phục vụ Nhân dân; (4) Đặc điểm cá nhân, bao gồm tư duy linh hoạt, khả năng thích ứng, kiểm soát cảm xúc, tính quyết đoán và khả năng chịu áp lực trong thực thi công vụ. Bốn thành tố được thể hiện trong thực tiễn xử lý tình huống.

Để bảo đảm tính khoa học và khả năng ứng dụng, khung năng lực cần được thiết kế theo bốn cấp độ: Cấp độ 1 – Thành tố cấu thành năng lực, gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm cá nhân; Cấp độ 2 – Các năng lực thành phần, cụ thể hóa những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết trong xử lý tình huống; Cấp độ 3 – Tiêu chí và chỉ báo hành vi, xác định những biểu hiện, sản phẩm và kết quả thực hiện có thể quan sát, đo lường, đánh giá; Cấp độ 4 – Mức độ thành thạo, phân định yêu cầu năng lực theo các mức cơ bản, thành thạo và nâng cao, phù hợp với từng vị trí việc làm. Qua đó xác định khoảng cách năng lực, nội dung bồi dưỡng và đánh giá khả năng vận dụng.

3. Thực trạng và nhu cầu đổi mới đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Thanh Hoá trong những năm qua

Theo báo cáo của Sở Nội vụ (2025) đã được sử dụng làm số liệu báo cáo thực trạng của đề tài, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Trong số 5.209 người thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ được tổng hợp, 5.198 người (99,79%) được đánh giá đáp ứng yêu cầu sau bốn tháng vận hành chính quyền hai cấp. Tuy nhiên, đây là chỉ báo về mức độ đáp ứng nhiệm vụ nói chung, không phải phép đo đầy đủ đối với từng năng lực xử lý tình huống [1].

Trong 600 phiếu tự đánh giá của cán bộ, công chức cấp xã, có 24,50% cho rằng kiến thức còn nội dung chưa đáp ứng yêu cầu; 23,00% nhận thấy nhiều công việc chưa thực hiện thuần thục; 29,50% tự nhận còn nội dung chưa hài lòng về thái độ. Ở chiều tích cực, 75,50% tự đánh giá kiến thức từ cơ bản đáp ứng trở lên; 77,00% đánh giá kỹ năng từ tương đối thuần thục trở lên; 97,50% đánh giá đặc điểm cá nhân từ đáp ứng trở lên. Kết quả cho thấy cần đối chiếu tự đánh giá với chất lượng thực hiện nhiệm vụ [1].

Khảo sát 36 cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện tại thời điểm điều tra (trước 01/7/2025) cho thấy 58,33% đánh giá đội ngũ cấp xã "cơ bản đáp ứng", 41,67% "hoàn toàn đáp ứng". Tuy nhiên, hiệu quả giải quyết được xếp tốt hoặc khá ở nhóm tình huống giải phóng mặt bằng chỉ đạt 61,11%, môi trường đạt 63,89%, thấp hơn đáng kể so với cung cấp thông tin (94,44%) và tranh chấp đất đai, cơ sở thờ tự (94,45%). Kết quả gợi ý bồi dưỡng theo lĩnh vực và độ phức tạp [1].

Đáng chú ý, 1.009 trong tổng số 5.605 cán bộ, công chức khối chính quyền cấp xã (18,00%) chưa có kinh nghiệm hoặc chưa từng làm nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước; đồng thời, khảo sát và phỏng vấn sâu cho thấy nhu cầu tăng cường phân tích hồ sơ, phối hợp và giao tiếp. Ý kiến của người dân, doanh nghiệp, cán bộ thôn giúp đối chiếu thái độ, tiến độ và chất lượng phục vụ; kết quả từng nhóm mẫu cần được diễn giải riêng [1].

Nguyên nhân gồm kinh nghiệm thực hành chưa đồng đều, bồi dưỡng nặng truyền đạt, cơ chế phối hợp và hỗ trợ chuyên môn chưa đồng bộ. Vì vậy, cần đổi mới đánh giá nhu cầu và tổ chức thực hành, thay vì chỉ tăng số lớp học.

4. Giải pháp phát triển năng lực xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá thông qua đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo khung năng lực

4.1. Chuẩn hóa khung năng lực và bộ tiêu chí đánh giá theo vị trí việc làm

Trước hết, cần khảo sát công việc thực tế, phân tích chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và các tình huống thường gặp ở từng nhóm vị trí cấp xã. Từ đó xác định năng lực chung và năng lực đặc thù, tránh sử dụng một danh mục tiêu chí đồng nhất cho công chức giải quyết hồ sơ hộ tịch, cán bộ xử lý lĩnh vực đất đai hay người làm công tác tham mưu, quản lý. Khung cần dựa trên yêu cầu xử lý thực tế [2], [3].

Mỗi năng lực thành phần cần được mô tả bằng hành vi và sản phẩm có thể quan sát. Ví dụ, năng lực vận dụng pháp luật thể hiện ở việc xác định đúng vấn đề và thẩm quyền; năng lực phân tích ở khả năng kiểm chứng nguồn thông tin, nhận diện nguyên nhân; năng lực tham mưu ở chất lượng so sánh các phương án; năng lực phối hợp ở phân công rõ trách nhiệm và tiến độ; năng lực kiểm soát ở khả năng phát hiện sai lệch, đề xuất điều chỉnh. Tiêu chí cần phản ánh tính hợp pháp, khả thi, kịp thời, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.

Đề nghị tổ chức đánh giá theo các mức phát triển năng lực, từ thực hiện nhiệm vụ thông thường có hướng dẫn đến độc lập xử lý tình huống phức tạp và có khả năng hướng dẫn người khác. Kết hợp tự đánh giá, nhận xét của người quản lý, kiểm tra hồ sơ công việc, phản hồi của tổ chức, công dân và kết quả thực hành mô phỏng; không chỉ căn cứ chứng chỉ hoặc thâm niên. Sử dụng kết quả để phân nhóm học viên theo khoảng cách năng lực và xác định nội dung ưu tiên bồi dưỡng.

Thí điểm theo chức danh, địa bàn và cập nhật khi pháp luật thay đổi.

4.2. Đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học, tự rèn luyện qua tình huống thực tiễn công vụ

Trên nền khung năng lực, cần thiết kế chương trình theo logic "yêu cầu vị trí việc làm – khoảng cách năng lực – mục tiêu học tập – tình huống thực hành – sản phẩm đầu ra – đánh giá sau bồi dưỡng". Chuyên đề cần quy định kết quả học tập quan sát được. Với người mới chuyển vị trí hoặc ít kinh nghiệm tham mưu, ưu tiên đọc hồ sơ, xác minh thông tin và lựa chọn căn cứ pháp lý; với nhóm lãnh đạo, quản lý, chú trọng dự báo rủi ro, điều phối và quyết định theo thẩm quyền [2], [3].

Trọng tâm cần chuyển từ thuyết trình một chiều sang học tập qua tình huống thực tế được chuẩn hóa, ẩn danh và kiểm tra căn cứ pháp luật. Bộ tình huống nên bao gồm tranh chấp đất đai, giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, tiếp công dân, an sinh xã hội, hồ sơ trực tuyến không đồng bộ, phản ánh trên không gian mạng. Tình huống cần có hồ sơ, dữ kiện mâu thuẫn, nhiều bên liên quan và phương án với rủi ro khác nhau.

Tổ chức bồi dưỡng có thể sử dụng quy trình thực hành thống nhất của chương trình: giao tình huống; nghiên cứu, nhận diện; phân tích và xây dựng phương án; trình bày, bảo vệ phương án; đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm. Học viên phải vận dụng pháp luật, đề xuất hai hoặc ba phương án, so sánh tính hợp pháp, hợp lý, khả thi, hiệu quả, đồng thuận và nguy cơ rủi ro. Đóng vai, phản biện và mô phỏng hồ sơ số giúp rèn đồng thời kiến thức, kỹ năng, thái độ. Giảng viên cần đánh giá cả quá trình lập luận, bằng chứng và tính đúng thẩm quyền, không chỉ khả năng trình bày lưu loát [3], [4].

Sau khóa học, gắn bồi dưỡng với thực hành tại nơi làm việc và sản phẩm thực hiện nhiệm vụ như phân tích tình huống, phương án tham mưu, báo cáo rút kinh nghiệm. Cán bộ lãnh đạo, quản lý công chức, viên chức theo dõi tiến bộ theo tiêu chí của khung; cơ sở bồi dưỡng đối chiếu kết quả vận dụng để điều chỉnh chương trình.

Kết hợp mô-đun ngắn, học liệu số, ngân hàng tình huống và giảng viên giàu kinh nghiệm.

4.3. Kết hợp đồng bộ các giải pháp phát triển năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ

Bồi dưỡng theo khung năng lực cần gắn với trách nhiệm công vụ, kỹ năng chuyên môn và điều kiện thực hiện.

Trước hết, phát huy vai trò của cấp ủy, người đứng đầu trong phân công, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ; đồng thời nâng cao tinh thần chủ động, trách nhiệm và ý thức tự học, tự rèn luyện của cán bộ, công chức cấp xã.

Bên cạnh đó, chú trọng phát triển năng lực nhận diện, phân tích, dự báo tình huống và quản trị rủi ro; kỹ năng giao tiếp, tuyên truyền, vận động, đối thoại, đàm phán và thuyết phục; năng lực xây dựng, lựa chọn phương án, huy động, sử dụng nguồn lực và phối hợp tổ chức thực hiện, nhất là đối với những tình huống phức tạp, liên ngành trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong thu thập, xử lý thông tin, giải quyết công việc và truyền thông công vụ, bảo đảm an toàn dữ liệu và đúng thẩm quyền.

Cùng với đó, cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát quá trình và đánh giá kết quả xử lý tình huống theo hướng khách quan, dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ đáp ứng yêu cầu của người dân. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để tiếp tục hoàn thiện khung năng lực, xác định nhu cầu và đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng. Các giải pháp gắn bồi dưỡng với thực thi công vụ và phục vụ Nhân dân [2].

4.4. Bảo đảm các điều kiện thực hiện và đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng theo khung năng lực

Cần phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan sử dụng công chức và cơ sở bồi dưỡng. Trong đó, cơ quan quản lý có trách nhiệm xác định nhu cầu, lựa chọn đối tượng, tạo điều kiện vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn; cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chủ động đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, xây dựng ngân hàng tình huống phù hợp với yêu cầu của từng vị trí việc làm. Đồng thời, cần phát huy trách nhiệm tự học, tự rèn luyện của cán bộ, công chức, gắn kết quả bồi dưỡng với chất lượng thực hiện nhiệm vụ.

Việc đánh giá hiệu quả cần chú trọng mức độ phát triển năng lực trước và sau bồi dưỡng, đặc biệt là khả năng nhận diện, phân tích, lựa chọn phương án và xử lý tình huống đúng pháp luật, phù hợp thực tiễn. Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy 17 giải pháp đề xuất đều được đánh giá có tính khả thi cao, với tỷ lệ từ 93,50% đến 99,67%. Tuy vậy, cần kiểm chứng hiệu quả qua kết quả công vụ và chất lượng phục vụ Nhân dân [1].

5. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy việc phát triển năng lực xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Thanh Hóa cần được tổ chức trên cơ sở khoảng cách giữa yêu cầu vị trí việc làm với năng lực thực hành. Khung năng lực là công cụ liên kết việc xác định chuẩn, đánh giá nhu cầu, thiết kế bồi dưỡng theo tình huống và kiểm chứng khả năng vận dụng. Vì vậy, chuẩn hóa khung năng lực và đổi mới đào tạo, bồi dưỡng phải được triển khai đồng thời, gắn với trách nhiệm người đứng đầu, tự học tại nơi làm việc, chuyển đổi số và kiểm tra, đánh giá dựa trên kết quả.

Theo định hướng Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX, tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026–2030 phấn đấu từ 11% trở lên; phát triển năng lực xử lý tình huống từ cơ sở góp phần tháo gỡ vướng mắc, nâng cao chất lượng phục vụ và năng lực thực thi chính sách, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu phát triển của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2045 [5].

ThS. Nguyễn Thị Hạnh

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Chủ nhiệm đề tài (2026), Báo cáo chuyên môn "Thực trạng năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay", Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, tài liệu nghiên cứu.

[2] Ban Chủ nhiệm đề tài (2026), Báo cáo "Nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, tài liệu nghiên cứu.

[3] Ban Chủ nhiệm đề tài (2026), Chuyên đề 1 "Khung năng lực xử lý tình huống trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã", tài liệu chương trình bồi dưỡng, Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa.

[4] Ban Chủ nhiệm đề tài (2026), Hướng dẫn thực hành các tình huống giả định trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã, tài liệu bồi dưỡng thuộc đề tài.

[5] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2025), Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025–2030.