Quảng Ninh: Cần triển khai 10 nội dung trọng tâm để hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới

Thứ năm, 11/05/2017 - 11:18

TNV - Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” - OCOP đ ã tạo được nét riêng cho xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Để thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, ngày 27/10/2010 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIII) đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về việc “Xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020” với 05 nhóm mục tiêu (gồm 20 mục tiêu cụ thể) là: Quy hoạch; hạ tầng kinh tế - xã hội; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hoá - xã hội - môi trường và hệ thống chính trị.

Khánh thành con đường nông thôn mới “Đại Phong” dài 11km  đi qua 03 xã miền núi
vùng đồng bào các dân tộc huyện Tiên Yên. Ảnh: Phạm Quỳnh

Sau 5 năm triển khai thực hiện, đã có 2/13 huyện, thị được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (thị xã Đông Triều và huyện đảo Cô Tô), 5/10 huyện cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới với 86/125 xã cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới (còn 22 xã đặc biệt khó khăn). Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đã được triển khai tích cực, đúng hướng được nhân dân đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực. Từ tỉnh, đến các sở, ban, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân đều tích cực vào cuộc, có kế hoạch triển khai cụ thể, rõ ràng.

Sản xuất nước mắm truyền thống Vân Đồn – sản phẩm đạt tiêu chuẩn 5 sao OCOP. Ảnh: Phạm Quỳnh

Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào thi đua sôi nổi, góp phần làm thay đổi nhận thức của đông đảo đội ngũ cán bộ và các tầng lớp nhân dân: Từ trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước, sang tự chủ thực hiện . Vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể ở nhiều nơi được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất. Đội ngũ cán bộ vận hành chương trình, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã có tiến bộ rõ rệt. Một số cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh đã được ban hành; điển hình như: Chính sách bảo tồn và phát triển các giống củ cải Đầm Hà, trà hoa vàng Ba Chẽ, gà đồi Tiên Yên, lợn Móng Cái, miến dong Bình Liêu gắn với du lịch.

Cá thu một nắng – sản phẩm OCOP đặc biệt thơm ngon của huyện đảo Cô Tô,
luôn được du khách săn tìm. Ảnh: Phạm Quỳnh

Cơ sở hạ tầng thiết yếu và an sinh xã hội vùng nông thôn được quan tâm đầu tư; điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao vượt trội so với trước. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến tích cực, đã hình thành nên một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung, cánh đồng qui mô lớn, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân; như: vùng cây ăn quả tập trung 1.000ha na dai ở thị xã Đông Triều, mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao (hoa lan, hoa ly, đồng tiền) tại huyện Hoành Bồ, TX.Đông Triều, TX.Quảng Yên…Đặc biệt, Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” - OCOP gắn với việc thu hút đầu tư vào các vùng sản xuất tập trung cho các sản phẩm chủ lực tại mỗi địa phương đã tạo được nét riêng cho xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Ruốc hàu, ruốc trai...- sản phẩm OCOP giàu dinh dưỡng của huyện Vân Đồn. Ảnh: Phạm Quỳnh

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện Chương trình cũng còn những hạn chế: Tiến độ triển khai Chương trình còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; đến hết năm 2015 mới có 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới và 09 xã khó khăn cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới (mục tiêu của Nghị quyết số 01-NQ/TU tới năm 2015 có 10/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới; 20/54 xã khó khăn đạt chuẩn nông thôn mới). Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, chưa hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung; hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã còn thấp, tính liên kết giữa các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm còn yếu. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của Chương trình chưa đầy đủ; việc quan tâm, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa thường xuyên, sâu sát. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vùng miền núi, biên giới còn thấp kém. Sự chênh lệnh tiêu chí giữa các xã ở các vùng, miền còn lớn; tỉ lệ hộ nghèo còn cao, số hộ nghèo ở các huyện nghèo chiếm tỉ lệ lớn; đời sống nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn. Việc triển khai và vận dụng khi xây dựng các tiêu chí ở một số địa phương còn máy móc, một số công trình đầu tư nhưng hiệu quả thấp (nhà văn hóa thôn, điểm vui chơi thanh thiếu nhi,...); chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chậm phát huy hiệu quả. Phát triển sản phẩm OCOP còn chậm, quy mô sản xuất và sản lượng chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Khu chăn nuôi trâu bò tập trung xa khu dân cư của đồng bào Dao thôn Phình Hồ, xã Bắc Sơn
(Móng Cái). Ảnh: Phạm Quỳnh

Trong giai đoạn 2016-2020, để tiếp tục thực hiện thành công các mục tiêu của Nghị quyết số 01-NQ/TU về xây dựng nông thôn mới; đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế của giai đoạn 2010-2015; phải đảm bảo thực hiện theo các mục đích, yêu cầu của xây dựng nông thôn mới hiện nay như sau:

- Xây dựng nông thôn mới theo hướng chuyển từ lượng sang chất, bảo đảm thường xuyên, liên tục và lâu dài. Xây dựng các xã đạt “chuẩn” nông thôn mới theo thực chất của các tiêu chí, tiến tới xây dựng nông thôn tiên tiến. Tiếp tục xác định người nông dân là chủ thể, trực tiếp thực hiện và được thụ hưởng; đầu tư của doanh nghiệp là động lực; Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ.

- Phát triển sản xuất gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân, giảm nghèo bền vững. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; hợp tác với nông dân sản xuất lớn; giải quyết vấn đề đầu vào và đầu ra cho sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.

- Hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn thôn, xã để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; nâng cao chất lượng cuộc sống, môi trường tự nhiên, môi trường sống cho người dân; bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự, an toàn xã hội.

Chỉ đạo tập trung, dứt điểm từng xã, không dàn đều; ưu tiên thực hiện các tiêu chí cần sớm đạt chuẩn và sử dụng ít kinh phí

Từ yêu cầu và tình hình thực tiễn, các cấp ủy đảng, chính quyền,..trong tỉnh Quảng Ninh cần tập trung thực hiện những nội dung trọng tâm cụ thể sau:

Một là; Tập trung nguồn lực triển khai thực hiện đồng bộ 05 nhóm mục tiêu, hoàn thành 12/20 mục tiêu còn lại của giai đoạn 2010-2015 theo Nghị quyết số 01-NQ/TU ; xây dựng 11/13 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới, để phấn đấu đến hết năm 2020 tỉnh Quảng Ninh đạt chuẩn nông thôn mới.

Hai là; Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu, tiêu chí và xây dựng kế hoạch đạt chuẩn nông thôn mới cho từng xã, huyện. Xác định cụ thể mục tiêu, lộ trình đạt chuẩn cho các xã, huyện từ nay đến năm 2020; đồng thời, bám sát chỉ đạo của Trung ương để chỉ đạo tập trung, dứt điểm từng xã, không dàn đều ; ưu tiên thực hiện các tiêu chí cần sớm đạt chuẩn và sử dụng ít kinh phí . Xây dựng thí điểm mô hình nông thôn tiên tiến tại cụm xã Việt Dân, An Sinh, Bình Khê (thị xã Đông Triều) và phấn đấu đưa 22 xã, 11 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện khu vực III. Đối với những xã có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội thuận lợi, phấn đấu chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển dịch vụ văn hóa, du lịch thông qua các dự án du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn và phát triển văn hóa, di tích lịch sử văn hóa.

Ba là; Điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch của cấp xã, huyện theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới và đảm bảo có hiệu quả thiết thực; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có. Tập trung đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu của các xã (giao thông, điện, nước sạch, trường học, trạm xá, nhà văn hóa,...); trong đó, đặc biệt ưu tiên các xã đặc biệt khó khăn.

Bốn là; Phát triển sản xuất phải gắn với thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Hoàn thành giao đất, giao rừng cho người dân; thực hiện tích tụ đất đai theo hướng vận động người nông dân “dồn điền, đổi thửa”, liên kết với các doanh nghiệp và trực tiếp tham gia sản xuất. Tổ chức hiệu quả mối liên kết 04 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) bằng các dự án sản xuất tập trung trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. Chú trọng việc xây dựng và nhân rộng các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, mô hình liên kết giữa hộ gia đình với doanh nghiệp và các đối tác kinh tế khác.

Năm là; Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đặc biệt là các cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực xã hội, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, hợp tác với nông dân phát triển sản xuất (nguồn lực tư vấn khoa học công nghệ, nguồn vốn tín dụng, các quỹ đầu tư, nguồn vốn của các doanh nghiệp, hợp tác xã,...). Đổi mới chính sách tín dụng; thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ lãi suất linh hoạt theo vùng và đối tượng nghèo, đối tượng cây, con cần phát triển để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

Sáu là; Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc về môi trường nông thôn như: Cấp nước sạch, thu gom xử lý rác thải sinh hoạt, xử lý môi trường trong sản xuất (thuốc bảo vệ thực vật, nước thải chăn nuôi, nước thải làng nghề, nhà máy, khu công nghiệp...); đặc biệt là ở các khu vực đông dân cư ở vùng đồng bằng, ven đô thị. Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến xử lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư tập trung.

Bẩy là; Hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất văn hóa, đảm bảo phù hợp, thiết thực với người dân ở các xã, thôn; xây dựng và nhân rộng các mô hình văn hóa lành mạnh, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; xây dựng mô hình tự quản bảo vệ an ninh trật tự xã hội ở thôn, xóm; xây dựng hương ước nêu cao tính tự giác, đoàn kết của cộng đồng.

Tám là; Tiếp tục xác định xây dựng nông thôn mới là thường xuyên, liên tục, lâu dài, hiệu quả, bền vững, không vì phong trào và hình thức; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; trong đó, đặc biệt chú trọng công tác tập huấn, giáo dục cộng đồng cho người dân ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo,... nhằm chuyển đổi nhận thức, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu,… Đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức, năng lực tổ chức, quản lý cho đội ngũ cán bộ chuyên trách nông thôn mới các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Thường xuyên thực hiện giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.

Chín là; Hoàn thiện hệ thống trường học trên địa bàn các xã đáp ứng yêu cầu đạt chuẩn quốc gia. Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng khó khăn. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch sản xuất nông nghiệp và yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn. Nâng cấp các trạm y tế tuyến xã; đồng thời nâng cao năng lực và chất lượng khám, chữa bệnh tại chỗ để đảm bảo an sinh xã hội cho người nghèo.

Mười là; Tiếp tục triển khai Chương trình OCOP giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025 theo hướng phát triển cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn. Khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị. Xây dựng các kênh, chuỗi tiêu thụ sản phẩm và phát triển nhãn hiệu OCOP thành thương hiệu của tỉnh Quảng Ninh trên phạm vi cả nước và quốc tế. Mỗi huyện, thị xã, thành phố tập trung xây dựng thương hiệu cho 1-2 sản phẩm tiêu biểu gắn với nâng cao sản lượng, chất lượng và hàm lượng chế biến. Kiện toàn tổ chức, bộ máy điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình OCOP từ tỉnh đến huyện, xã . Đồng thời, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở vùng nông thôn.

Đào Thanh Lưỡng

Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh