Quỹ đầu tư quốc gia: Công cụ hỗ trợ và dẫn dắt dòng vốn dài hạn

Thứ tư, 08/07/2026 - 17:30

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử: Chuyển dịch mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hạ tầng hiện đại. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là bài toán nguồn vốn.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn cho phát triển hạ tầng chiến lược, chuyển đổi xanh, năng lượng và công nghệ cao trong những thập niên tới lên đến 38,5 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh nguồn ngân sách nhà nước có hạn và hệ thống tín dụng thương mại bộc lộ những giới hạn, việc hình thành Quỹ đầu tư quốc gia được định vị là một giải pháp mang tính chiến lược, đóng vai trò "vốn mồi" khơi thông và dẫn dắt các dòng vốn dài hạn.

Bài toán tái cấu trúc nguồn vốn Nhà nước

Nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào bộ ba động lực: Đầu tư công, tín dụng ngân hàng và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực, mô hình này đã phát huy hiệu quả lớn trong giai đoạn đầu phát triển nhưng hiện đang chạm trần và bộc lộ ba giới hạn cốt lõi:

Thứ nhất, ngân sách nhà nước không thể đơn độc gánh vác các siêu dự án hạ tầng quốc gia có tổng vốn đầu tư hàng chục tỷ USD như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, hạ tầng logistics, trung tâm dữ liệu lớn hay các dự án năng lượng thuộc Quy hoạch điện VIII.

Thứ hai, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bản chất là huy động nguồn vốn ngắn hạn để cho vay, do đó việc tài trợ cho các dự án có vòng đời kéo dài hàng chục năm sẽ tạo ra rủi ro kỳ hạn và thanh khoản cực kỳ lớn.

Thứ ba, dòng vốn FDI dù rất quan trọng nhưng xét về bản chất vẫn là nguồn lực từ bên ngoài, khó đóng vai trò chủ động dẫn dắt hay bảo đảm an ninh kinh tế trong các ngành chiến lược cốt lõi.

Nhận diện rõ khoảng trống định chế này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW và Kết luận 18 của Trung ương Đảng, đưa ra định hướng chiến lược: Tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Đây là giải pháp bổ khuyết hoàn hảo cho thị trường tài chính, không thay thế các động lực hiện hành mà hoạt động như một công cụ điều tiết, hỗ trợ và thúc đẩy linh hoạt dòng vốn phát triển.

Giải quyết ba nút thắt lớn của nền kinh tế

Khi được hình thành, Quỹ đầu tư quốc gia được kỳ vọng sẽ giải quyết đồng thời ba nút thắt kinh tế vĩ mô đã tồn tại kéo dài:

Khơi thông dòng vốn dài hạn: Hiện nay, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trên GDP của Việt Nam đã chạm mốc 140%, mức cảnh báo về giới hạn an toàn tài chính. Nghiêm trọng hơn, tốc độ tăng trưởng huy động vốn tại các ngân hàng chỉ bằng một nửa so với tăng trưởng tín dụng, gây ra sự lệch pha nghiêm trọng với nhu cầu của các dự án chiến lược vốn có thời gian hoàn vốn từ 20 đến 30 năm. Bà Vương Thị Huyền, Tổng giám đốc Fast Capital, nhận định Quỹ đầu tư quốc gia sẽ là cơ chế hoàn hảo để tập hợp nguồn vốn dài hạn từ các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư quốc tế và các tổ chức tài chính phát triển (như ADB, MIGA, DBS, UOB). Các định chế quốc tế không thiếu vốn, cái họ cần là một đối tác nội địa có năng lực quản trị rủi ro và cơ chế phân bổ dòng tiền minh bạch.

Biến tài sản công thành nguồn lực phát triển: Việt Nam đang sở hữu khối tài sản công vô cùng đồ sộ bao gồm phần vốn tại các doanh nghiệp nhà nước và hạ tầng quốc gia. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác hiện chưa tương xứng. Hoạt động theo cơ chế thị trường, Quỹ đầu tư quốc gia có thể thực hiện chứng khoán hóa tài sản, bán quyền khai thác hoặc cấu trúc nên các sản phẩm tài chính mới dựa trên dòng tiền của các dự án hạ tầng, biến các tài sản "băng giá" thành dòng vốn lưu thông.

Tạo nguồn hàng chất lượng cho thị trường vốn: Dù thị trường chứng khoán Việt Nam đã được FTSE công nhận là thị trường mới nổi, song điểm nghẽn lớn là thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn và các sản phẩm tài chính có chiều sâu. Quỹ đầu tư quốc gia sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cổ phần hóa, thoái vốn lành mạnh và đưa các tổng công ty lớn lên sàn. Điều này vừa tạo ra nguồn hàng chất lượng thu hút khối ngoại, vừa tích tụ nguồn lực cho các dự án mới.

Nền tảng hai mươi năm và tầm nhìn quốc tế

Đề án thành lập Quỹ đầu tư quốc gia không phải bắt đầu từ con số không, mà được xây dựng trên nền tảng vững chắc gần hai thập kỷ của SCIC. Lũy kế từ năm 2006 đến nay, SCIC đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 114.500 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 103.400 tỷ đồng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân đạt tới 13,3% mỗi năm. Tổng tài sản tăng 13 lần, vốn chủ sở hữu tăng 17 lần với danh mục hiện tại trị giá hơn 200.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD). Những thương vụ đầu tư giải cứu và tái cơ cấu thành công vào Vietnam Airlines, hay các ngành năng lượng, ngân hàng đã minh chứng SCIC đang tiệm cận rất gần đến chức năng của một quỹ đầu tư chủ quyền (SWF).

Nhìn ra thế giới, các Quỹ đầu tư quốc gia hiện quản lý khối tài sản khổng lồ vượt 12.000 tỷ USD. Bài học từ Temasek của Singapore là một ví dụ điển hình. Từ danh mục ban đầu chỉ có 35 doanh nghiệp vào năm 1974, hiện Temasek quản lý 434 tỷ SGD (hơn 300 tỷ USD) với tỷ suất sinh lời dài hạn ổn định 14-15%/năm. Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, nhấn mạnh: Giá trị lớn nhất của Temasek không chỉ là quy mô mà là tư duy vận hành chuyên nghiệp, hoàn toàn độc lập với bộ máy hành chính và tuân thủ tuyệt đối kỷ luật thị trường.

Theo ông Nguyễn Chí Thành, Chủ tịch SCIC, đơn vị đang phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Thế giới để xây dựng và hoàn thiện đề án trình cấp có thẩm quyền. Quỹ đầu tư quốc gia ra đời không chỉ nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, mà mang sứ mệnh định hình tương lai kinh tế đất nước. Khi được trao đủ nguồn lực, cơ chế vận hành thông thoáng và độc lập, định chế này sẽ trở thành quả đấm thép tài chính, giải bài toán 38,5 triệu tỷ đồng, đồng hành cùng khu vực tư nhân đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên số và phát triển bền vững.