UBND TP Đồng Nai vừa ban hành văn bản hợp nhất về quy định đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn.
Theo quy định, đơn giá bồi thường được áp dụng đối với các trường hợp cây trồng bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm cây hằng năm, cây lâu năm, cây cảnh trang trí và cây lâm nghiệp.
Nguyên tắc bồi thường cây trồng khi thu hồi đất
Đối tượng áp dụng gồm cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai; đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường; người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai và người sở hữu tài sản hợp pháp đối với cây trồng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Việc bồi thường thiệt hại đối với cây trồng được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 43/2024/QH15.
Về nguyên tắc, số lượng cây trồng được xác định dựa trên kết quả thống kê thực tế tại thời điểm tổ chức kiểm đếm trên diện tích đất bị thu hồi. Đối với cây lâu năm, việc xác định độ tuổi cây trồng được thực hiện trên cơ sở hiện trạng thực tế, kết hợp với hồ sơ và các thông tin liên quan.

Trường hợp không thống nhất kết quả kiểm đếm về độ tuổi cây, đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với UBND cấp xã tổ chức thẩm định, mời các cơ quan chuyên môn về trồng trọt hoặc lâm nghiệp tham gia để thống nhất xác định độ tuổi cây làm căn cứ xây dựng phương án bồi thường.
Giá trị bồi thường cây trồng được tính theo số cây hoặc diện tích bị thiệt hại, kết hợp với đơn giá quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo.
Đối với trường hợp cây trồng vượt quá mật độ chuẩn, giá trị bồi thường được xác định trên cơ sở đơn giá và số lượng cây theo mật độ chuẩn quy định. Việc xác định mật độ, số lượng cây và giá trị bồi thường phải căn cứ vào kết quả kiểm đếm và các quy định tương ứng.
Đối với vườn trồng xen nhiều loại cây có chu kỳ sinh trưởng, sản xuất, kinh doanh khác nhau, giá trị bồi thường được xác định theo từng loại cây. Tuy nhiên, tổng giá trị bồi thường trên một đơn vị diện tích không được vượt quá 1,5 lần giá trị cây trồng tính theo cây trồng chính tương đương trên diện tích đó.
Giá bồi thường cây hằng năm tại Đồng Nai cao nhất bao nhiêu?
Theo phụ lục ban hành kèm theo quy định, đơn giá bồi thường đối với cây hằng năm được xác định theo từng loại cây trồng, tính bằng đồng/ha.
Đối với nhóm cây lương thực, cây lúa vụ Đông Xuân được quy định mức bồi thường 37,05 triệu đồng/ha, vụ Hè Thu là 25,5 triệu đồng/ha. Cây bắp có mức bồi thường 40 triệu đồng/ha cho cả vụ Đông Xuân và Hè Thu.

Ở nhóm cây lấy củ, mức bồi thường đối với cây khoai lang là 240 triệu đồng/ha, cây khoai mì 90 triệu đồng/ha; khoai mỡ, khoai môn, bình tinh có mức 238 triệu đồng/ha.
Đáng chú ý, một số loại rau màu có đơn giá bồi thường hàng trăm triệu đồng/ha. Cụ thể, cây cà chua, cà pháo, cà tím, ớt có mức bồi thường 145 triệu đồng/ha; cây rau muống 280 triệu đồng/ha; rau dền 260 triệu đồng/ha; rau mồng tơi 360 triệu đồng/ha; cây xà lách và cần nước cùng có mức 450 triệu đồng/ha.
Đối với các loại cây khác, cây mướp được quy định mức 525 triệu đồng/ha; cây dưa leo 400 triệu đồng/ha và cây bí đỏ 375 triệu đồng/ha.
Sầu riêng được bồi thường gần 12 triệu đồng/cây
Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được quy định chi tiết theo từng loại cây, mật độ trồng và giai đoạn sinh trưởng, thu hoạch.
Trong đó, cây sầu riêng có mức bồi thường đáng chú ý. Theo bảng đơn giá đối với cây sầu riêng trồng ở mật độ 156 cây/ha, mức bồi thường trong năm thứ nhất là 502.090 đồng/cây, năm thứ hai 795.641 đồng/cây, năm thứ ba khoảng 1,14 triệu đồng/cây.
Đến năm thứ tư và thứ năm, mức bồi thường lần lượt là 1,5 triệu đồng/cây và 1,95 triệu đồng/cây.
Đối với cây sầu riêng bước vào giai đoạn thu hoạch, đơn giá bồi thường tăng đáng kể. Cụ thể, giai đoạn thu hoạch từ năm thứ nhất đến năm thứ năm được quy định khoảng 8,2 triệu đồng/cây; từ năm thứ 6 đến năm thứ 10 là gần 12 triệu đồng/cây và từ năm thu hoạch thứ 11 trở đi là gần 7,3 triệu đồng/cây.

Đối với cây bưởi trồng ở mật độ 210 cây/ha, đơn giá bồi thường được quy định từ 313.119 đồng/cây trong năm thứ nhất đến gần 1,8 triệu đồng/cây ở giai đoạn thu hoạch từ năm thứ 6 đến năm thứ 10.
Cây bơ trồng ở mật độ 186 cây/ha có mức bồi thường 357.571 đồng/cây trong năm thứ nhất; giai đoạn thu hoạch từ năm thứ 6 đến năm thứ 10 là hơn 2,5 triệu đồng/cây.
Ngoài ra, phụ lục còn quy định mức bồi thường đối với nhiều loại cây lâu năm khác như chôm chôm, nhãn, vải thiều, măng cụt, mít, xoài, điều, cà phê, cao su, tiêu và một số loại cây trồng khác.
Đơn giá bồi thường cây cảnh trang trí: Tùy loại cây, kích thước và thời gian trồng
Bên cạnh cây nông nghiệp, Đồng Nai cũng quy định đơn giá bồi thường đối với cây cảnh trang trí theo từng loại cây và đơn vị tính.
Theo đó, cây chùm ngây có đơn giá 193.000 đồng/m2; cây chuỗi ngọc nhỏ 163.000 đồng/m2; cây cô tòng 79.000 đồng/cây; cây si 515.000 đồng/cây; cây tắc 172.000 đồng/cây.
Đối với một số loại cây cảnh khác, đơn giá bồi thường được phân chia theo kích thước thân cây, chiều cao hoặc thời gian sinh trưởng tương ứng với từng loại cây.
Đối với cây lâm nghiệp trồng ngoài quy hoạch ba loại rừng, đơn giá bồi thường được phân chia theo nhóm cây, đường kính thân cây và mật độ trồng.
Cụ thể, các loại cây gỗ trồng trên cạn được phân thành 5 nhóm với mật độ chuẩn 833 cây/ha, đơn giá bồi thường được xác định theo từng khoảng đường kính thân cây.
Ngoài ra, quy định còn có đơn giá riêng đối với nhóm cây keo, bạch đàn; cây ngập mặn và một số loại cây lâm nghiệp khác.
Trường hợp nào không được bồi thường cây trồng khi thu hồi đất?
Bên cạnh việc quy định đơn giá, văn bản cũng xác định các trường hợp không được bồi thường cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất.
Cụ thể, không bồi thường đối với các trường hợp trồng cây sau thời điểm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất.
Đối với vườn cây đầu dòng nhóm loài keo và bạch đàn, quy định xác định thời hạn 3 năm kể từ khi trồng. Những vườn cây ngoài thời hạn ba năm kể từ khi trồng không được đền bù theo quy định.
Đồng thời, trường hợp các loại cây trồng chưa có trong quy định, đơn vị, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng vận dụng đơn giá bồi thường của các loại cây trồng tương đương để tính giá bồi thường.
Trường hợp không có loại cây tương đương, đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường phối hợp với các cơ quan có liên quan để xác định đơn giá phù hợp, làm cơ sở thực hiện phương án bồi thường theo quy định.
Thúy Hà