Trực tiếp Hội thảo: Bất động sản phía Nam đón đầu cơ hội phát triển hạ tầng

Thứ tư, 20/09/2023 - 09:48

Sáng nay (20/9), Hội thảo "Bất động sản phía Nam đón đầu cơ hội phát triển hạ tầng" được tổ chức với sự tham gia của các chuyên gia kinh tế, tài chính, bất động sản và đại diện các doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản.

 

Hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia:

- TS. Đinh Thế Hiển - Chuyên gia Kinh tế

- TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia Tài chính Ngân hàng

- TS. Sử Ngọc Khương - Giám đốc cấp cao Savills Việt Nam

- Ông Võ Huỳnh Tuấn Kiệt - Giám đốc Bộ phận tiếp thị nhà ở CBRE Việt Nam

- Ông Hồ Bá Tình - Trưởng phòng nội dung CafeLand

9h00: Bắt đầu hội thảo

PHẦN 1: THAM LUẬN CỦA CÁC DIỄN GIẢ

Ông Hồ Bá Tình: Kinh tế thế giới và những thách thức - cơ hội của Việt Nam

Bối cảnh kinh tế thế giới

Cuối năm 2022 nhiều tổ chức và chuyên gia đều dự báo kinh tế toàn cầu nhiều khả năng bước vào một suy thoái kéo dài. Đây cũng là năm thị trường chứng khoán giảm mạnh. Ngân hàng Trung ương của các quốc gia vẫn liên tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Sức cầu của gần như toàn bộ các nền kinh tế đều suy yếu. Tăng trưởng thương mại toàn cầu 2023 dự báo chỉ còn 1,7%, giảm so với mức 6% năm 2022.

Tuy nhiên, những tháng gần đây kinh tế toàn cầu đang có nhiều điểm tích cực. Các chỉ số chứng khoán phục hồi, tình trạng tăng trưởng, thất nghiệp được cải thiện.

Trong tháng 6 và tháng 7 vừa qua IMF và WB đều điều chỉnh triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu so với trước đây. Cụ thể, IMF dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2023, 2024 sẽ đạt khoảng 3%.

Lạm phát toàncầu sẽ đạt khoảng 6,8% năm 2023 và 5,2% năm 2024, thấp hơn mức 8,7% năm 2022.

Trong khi đó, hệ thống ngân hàng dần ổn định sau khi một số ngân hàng phá sản nhưng được các chính phủ sử dụng các biện pháp mạnh mẽ để hỗ trợ. Điều này đã hạn chế các rủi ro tài chính trong tương lai và vực dậy lòng tin cho các nhà đầu tư.

Nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ phục hồi khá tốt bất chấp việc FED liên tục tăng lãi suất và xung đột Ukraine-Nga ngày càng quyết liệt.

Kinh tế Quý 2/2023 đã phục hồi trở lại và đạt mức 2,6% (yoy). Đây là quý đánh dấu việc tăng trưởng cao hơn so với quý trước sau 5 quý tăng trưởng chậm lại. Kinh tế Mỹ đang có sự phục hồi ngắn hạn cao hơn dự báo.

Ở khu vực châu Âu, kinh tế Quý 2/2023 của EU vẫn trong đà suy giảm và chỉ đạt 0,5% (yoy). Kinh tế khu vực này vẫn còn khá ảm đạm và sức cầu đang suy giảm khá mạnh. Nhu cầu nhập khẩu của các nước EU cũng đang suy giảm mạnh kể từ giữa năm 2022.

Nền kinh tế thứ 2 thế giới là Trung Quốc không phục hồi như dự báo sau khi nới lỏng phong tỏa vì Covid. Dù lãi suất nước này đang duy trì ở mức rất thấp nhưng sức cầu suy giảm mạnh. Gần 9.000 tỷ USD nợ chính quyền địa phương đang đè nặng lên nợ công của nước này.

GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng tích cực sau khi nước này bỏ giãn cách xã hội. Tuy nhiên, sức cầu trong nước vẫn rất yếu, GDP quý 2 vẫn chỉ tăng 6,3%, các gói kích thích kinh tế vẫn chưa thể vực dậy được lòng tin thị trường.

Thị trường bất động sản Trung Quốc cũng trong giai đoạn ảm đạm, các doanh nghiệp bất động sản hàng đầu Trung Quốc đang lâm vào tình trạng khó khăn và nguy cơ phá sản hàng loạt ở mức cao.

Như vậy có thể thấy, kinh tế thế giới phục hồi ngắn hạn rất tốt. Tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia phát triển vẫn duy trì ở mức rất thấp. Đây là tiền đề cho thấy không có cuộc khủng hoảng tài chính như nhiều người lo ngại trước đó.

Dù vậy trong dài hạn thách thức với kinh tế thế giới vẫn rất lớn khi lạm phát dù giảm nhưng vẫn ở mức cao và các NHTW đều ưu tiên chống lạm phát trong những tháng cuối năm 2023 và năm 2024.

Kinh tế Việt Nam

Việt Nam trong đại dịch nền kinh tế lại không khó khăn như bây giờ. Lý do thời điểm đó chính sách tiền tệ nới lỏng, ngân hàng chưa thắt chặt cho vay. Ngoài ra, Xuất khẩu thời điểm đó vẫn tốt. Nhưng đến giữa năm 2022 phát sinh nhiều vấn đề về trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng thắt chặt “hầu bao” và ảnh hưởng tâm lý từ một số vụ xử lý sai phạm của các doanh nghiệp bất động sản,…

Chỉ số sản xuất công nghiệp tính đến tháng 8/2023 suy giảm 0,4%, vực dậy chỉ nhờ dịch vụ phục hồi sau Covid-19. Một số địa phương có ngành công nghiệp phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Bình Dương, Bắc Ninh suy giảm hoặc tăng ở mức thấp.

 

 

Về hoạt động đầu tư, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước trong 8 tháng đầu năm tăng khá mạnh. Cụ thể đầu tư ngân sách đã đạt 352 nghìn tỷ, tăng 23%. Tuy nhiên, con số này mới đạt khoảng 50% dự toán đầu tư công cho cả năm 2023.Vốn đăng ký khu vực FDI suy giảm đến 8,2%. Tuy nhiên, số vốn giải ngân vẫn tăng 1,3% và đạt 13,1 tỷ USD.

Trong 6 tháng đầu năm tổng đầu tư toàn bộ nền kinh tế chỉ tăng 4,7%,thấp hơn mức tăng 9,2% cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực nhà nước tăng đến 12%, còn khu vực ngoài nhà nước chỉ tăng 2,7%, khu vực FDI tăng 1,7%.

Về xuất nhập khẩu hàng hóa, kim ngạch thương mại năm 2023 của Việt Nam sụt giảm mạnh.Trong 8 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 227 tỷ USD, giảm 10%, nhập khẩu 207 tỷ USD giảm 16%.Việt Nam xuất siêu 20,19 tỷ USD, một trong những mức xuất siêu cao nhất từ trước tới nay.

Mỹ là thị trường Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất, tiếp theo là khu vực Trung Quốc với lần lượt 62 và 35,8 tỷ USD. Ngược lại Việt Nam chỉ nhập từ Mỹ có 9,3 tỷ USD và nhưng lại nhập từ Trung Quốc lên tới 68 tỷ USD.

Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực trong nước hiện chỉ còn khoảng 26%,trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu chiếm 36%.

Lạm phát năm 2023 chỉ tăng 2,96% so với cùng kỳ. Như vậy, khác với nhiều lo ngại hồi đầu năm, lạm phát Việt Nam được khống chế rất tốt. Và đây là cơ sở cho ngân hàng liên tục hạ lãi suất trong những tháng vừa qua.

Lạm phát tăng thấp một phần do sức cầu trong nước suy yếu rất mạnh. Bên cạnh đó, xu hướng giảm giá các hàng hóa trên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến lạm phát ở Việt Nam.

Về thị trường tài chính hiện nay, NHNN đã giảm mạnh lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và trần lãi suất ngắn hạn.Tính đến cuối tháng 7/2023, vốn tín dụng cho nền kinh tế mới đạt khoảng 12,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,56% so với đầu năm. Trước đó, tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối tháng 4, tháng 5, tháng 6 đạt lần lượt 3,03%, 3,27% và 4,73%.

Cùng kỳ năm 2022 tăng trưởng tín dụng là 9,54%, mục tiêu năm 2023 là 14%.Tính đến cuối tháng 6 tổng tiền gửi tăng 3,71%, trong đó khu vực doanh nghiệp chỉ tăng 0,51%, khu vực dân cư tăng 8,82%.

Lãi suất huy động và cho vay đang giảm mạnh. Hầu hết các ngân hàng

đều điều chỉnh lãi suất huy động.Nhiều ngân hàng tung ra gói vay ưu đãi tiêu dùng, mua nhà, thậm chí vay để trả nợ cho các ngân hàng khác.Tỷ giá có dấu hiệu tăng nhưng không đáng lo ngại khi thặng dư cán cân thương mại lớn, các dòng vốn khác vẫn liên tục đổ vào Việt Nam.

Về đầu tư công, đầu tư khu vực nhà nước và cụ thể đầu tư công sẽ là “đầu tàu” để vực dậy nền kinh tế.Thực tế giải ngân trong 7 tháng đầu năm mới chỉ đạt 36%. Để giải ngân được hết số vốn theo kế hoạch các cơ quan nhà nước phải nỗ lực rất nhiều.

Như vậy có thể thấy, kinh tế đang suy giảm mạnh bởi khó khăn trong xuất khẩu và sức cầu trong nước yếu.

Đầu tư từ khu vực nhà nước tăng mạnh đã hỗ trợ tốt cho nền kinh tế. Giải ngân đầu công cũng đạt được kết quả khả quan nhưng vẫn đạt tỷ lệ khá thấp so với mục tiêu.

Lạm phát được kiểm soát rất tốt. Đây là cơ sở cho NHNN nới lỏng chính sách tiền tệ trong thời gian qua và có thêm không gian để tiếp tục nới lỏng trong thời gian tới.

Lãi suất giảm, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện. NHTM đang đẩy mạnh việc cho các doanh nghiệp và người dân vay vốn.

Về triển vọng kinh tế, Việt Nam là một nền kinh tế đang có mức thu nhập thấp triển vọng tăng trưởng nhanh là rất lớn. Với vị trí địa lý đặc biệt và một nền kinh tế năng động Việt Nam vẫn có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt là các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc, Nhận Bản, Singapore, Hoa Kỳ và các quốc gia châu  Âu.

Việt Nam ký kết nhiều tổ chức tự do thương mại tự như CPTPP, AFTA, EEUV-FTA… và đặc biệt mới đây Việt Nam ký kết đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ. Điều này mở ra một cơ hội lớn đối với kinh tế Việt Nam.

Những chính sách về tiền tệ, tài khóa trong thời gian gần đây sẽ phát huy tác dụng trong thời gian tới để phục hồi dần quá trình phát triển bình thường của nền kinh tế.

 

PV