Từ “sức mạnh mềm” đến “năng lực kiến tạo”: Khi đối ngoại nhân dân trở thành phương thức quản trị quốc gia

Chủ nhật, 26/07/2026 - 08:00

Trong kỷ nguyên cạnh tranh bằng kết nối, quốc gia mạnh không chỉ là quốc gia có nhiều nguồn lực, mà còn là quốc gia biết tổ chức các mạng lưới để biến mọi nguồn lực thành giá trị phát triển. theo đó, đối ngoại nhân dân cũng phải tạo nên bước chuyển: từ giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thành quả phát triển trở thành lực lượng tiên phong, kiến tạo không gian phát triển mới, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, nâng tầm vị thế quốc gia; từ hoạt động đối ngoại truyền thống đến phương thức quản trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình.

Khi đối ngoại nhân dân trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia: Kỳ 3: Từ "sức mạnh mềm" đến "năng lực kiến tạo": Khi đối ngoại nhân dân trở thành phương thức quản trị quốc gia

Đối ngoại nhân dân phải trở thành một phương thức quản trị phát triển

Nếu nhìn đối ngoại nhân dân chỉ như một lĩnh vực công tác, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến số lượng hoạt động được tổ chức, số đoàn được đón tiếp hay số biên bản hợp tác được ký kết. Nhưng nếu đặt đối ngoại nhân dân trong chiến lược phát triển quốc gia, điều cần đo lường không còn là số lượng sự kiện, mà là giá trị mới được tạo ra sau mỗi kết nối. Đây chính là sự thay đổi lớn nhất mà đối ngoại nhân dân cần thực hiện trong giai đoạn phát triển mới.

Trong nhiều năm, chúng ta đã làm tốt việc mở rộng quan hệ, xây dựng tình hữu nghị và củng cố sự đồng thuận quốc tế đối với Việt Nam. Đó là nền tảng rất quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, khi các quốc gia đều tìm cách thu hút dòng vốn, công nghệ, nhân tài và các trung tâm đổi mới sáng tạo, chỉ tạo dựng thiện cảm thôi là chưa đủ. Điều cần hơn là phải biến những mối quan hệ ấy thành nguồn lực phát triển. Nói cách khác, đối ngoại nhân dân phải chuyển từ tư duy kết nối để giao lưu sang kết nối để đồng kiến tạo giá trị.

Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu: Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Điểm mới trong quan điểm này là đối ngoại không còn đứng sau phát triển mà trở thành một trong những lực lượng trực tiếp tạo ra động lực phát triển. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đối ngoại nhân dân phải được nhìn nhận như một cấu phần của quản trị quốc gia hiện đại. Đối ngoại nhân dân phải thực sự mang lại công nghệ, vốn, thị trường cho nền kinh tế Việt Nam. Với ý nghĩa đó, một hoạt động giao lưu văn hóa cũng không chỉ để quảng bá bản sắc dân tộc. Giá trị lớn hơn là làm cho văn hóa Việt Nam trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo, thúc đẩy du lịch, công nghiệp văn hóa, giáo dục quốc tế và thương hiệu quốc gia. Đó chính là tư duy quản trị của đối ngoại nhân dân trong giai đoạn mới.

Phải tạo được hệ sinh thái kết nối toàn cầu

Không một quốc gia nào bước vào nhóm phát triển cao chỉ bằng nguồn lực bên trong. Điều tạo nên khác biệt giữa các quốc gia thành công và các quốc gia phát triển chậm không phải ở chỗ ai có nhiều nguồn lực hơn, mà ở khả năng kết nối những nguồn lực phân tán trên phạm vi toàn cầu thành lợi thế của mình.

Đây là điều Singapore đã làm rất thành công khi biến quốc đảo nhỏ bé thành trung tâm tài chính, logistics và đổi mới sáng tạo của châu Á. Hàn Quốc cũng không chỉ phát triển bằng chính sách công nghiệp mà còn bằng khả năng kết nối mạng lưới chuyên gia, doanh nghiệp và các trường đại học trên toàn thế giới. Trung Quốc nhiều năm qua cũng coi cộng đồng Hoa kiều, mạng lưới trí thức và các hiệp hội nhân dân là một bộ phận quan trọng trong chiến lược nâng cao sức mạnh quốc gia. Điểm chung của các quốc gia này là họ không xem đối ngoại nhân dân là hoạt động bên lề, mà coi đó là hạ tầng kết nối của chiến lược phát triển.

Việt Nam đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng một hệ sinh thái như vậy. Hơn sáu triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang sinh sống tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; hàng trăm nghìn chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại các trung tâm công nghệ hàng đầu; hàng nghìn doanh nghiệp FDI, các trường đại học, tổ chức quốc tế và cộng đồng bạn bè quốc tế đã có quan hệ gắn bó với Việt Nam. Vấn đề đặt ra không phải là có bao nhiêu nguồn lực, mà là làm thế nào để những nguồn lực ấy gặp được nhau. Hàng triệu người Việt Nam đang học tập, nghiên cứu và làm việc trên khắp thế giới là một kho tri thức khổng lồ, nhưng không phải lúc nào những tri thức ấy cũng tìm được nơi cần đến.. Có những công nghệ do người Việt nghiên cứu ở nước ngoài chưa đến được doanh nghiệp trong nước; có những chuyên gia sẵn sàng cống hiến nhưng chưa có cơ chế kết nối phù hợp; có những trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quốc tế đang tìm kiếm đối tác, trong khi nhiều địa phương vẫn loay hoay tìm lời giải cho bài toán phát triển. Chính khoảng trống kết nối ấy là không gian để đối ngoại nhân dân phát huy vai trò kiến tạo.

Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, coi đây là một trong những nguyên tắc lớn để phát triển đất nước. Đây chính là định hướng cho công tác đối ngoại. Sức mạnh thời đại không tự nhiên đến với Việt Nam; nó chỉ trở thành sức mạnh của Việt Nam khi được kết nối, chuyển giao và hấp thụ thông qua những mạng lưới hợp tác thực chất. Đối ngoại nhân dân vì vậy cần được tổ chức theo tư duy nền tảng (platform thinking), thay vì tư duy sự kiện (event thinking). Mỗi hoạt động không phải là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu của một mạng lưới mới. Mỗi diễn đàn phải tạo ra một cộng đồng hợp tác. Mỗi chương trình giao lưu phải dẫn tới một dự án cụ thể. Mỗi mối quan hệ phải tiếp tục được nuôi dưỡng bằng những giá trị chung. Chỉ khi hình thành được hệ sinh thái kết nối như vậy, đối ngoại nhân dân mới thực sự trở thành một năng lực kiến tạo phát triển, chứ không chỉ là một lĩnh vực hoạt động đối ngoại.

Từ các mối quan hệ đến quản trị mạng lưới toàn cầu

Một trong những hạn chế lớn nhất của đối ngoại nhân dân hiện nay là vẫn còn được tổ chức theo tư duy hoạt động. Mỗi năm có thêm nhiều đoàn vào, đoàn ra, nhiều diễn đàn, nhiều lễ ký kết và nhiều chương trình giao lưu, nhưng sau khi sự kiện kết thúc, không ít mối quan hệ cũng dừng lại. Điều đó khiến nhiều nguồn lực quốc tế vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng mà chưa chuyển hóa thành giá trị phát triển cụ thể.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên mạng lưới, tư duy này cần được thay đổi. Đối ngoại nhân dân không còn là quản lý từng hoạt động riêng lẻ mà phải chuyển sang quản trị các mạng lưới hợp tác xuyên biên giới. Nói cách khác, điều cần xây dựng không phải là những sự kiện thành công, mà là những cộng đồng hợp tác có khả năng tự phát triển sau mỗi lần kết nối.

Đại hội XIV xác định yêu cầu xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân nhằm "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc". Quan điểm này cho thấy đối ngoại nhân dân không thể vận hành tách biệt mà phải trở thành một mắt xích trong hệ thống quản trị đối ngoại thống nhất của quốc gia.

Điều đó cũng có nghĩa, mỗi hoạt động đối ngoại cần được thiết kế như một mắt xích của một chuỗi giá trị dài hạn. Một hội thảo quốc tế không chỉ kết thúc bằng kỷ yếu mà phải tiếp tục bằng các nhóm nghiên cứu chung. Một diễn đàn doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc trao đổi danh thiếp mà phải hình thành các chuỗi liên kết đầu tư, sản xuất và tiêu thụ. Một chương trình giao lưu thanh niên không chỉ để các đại biểu gặp nhau vài ngày mà cần phát triển thành mạng lưới sáng kiến, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo giữa thế hệ trẻ các nước. Chính khả năng kiến tạo những mạng lưới như vậy sẽ quyết định chiều sâu của đối ngoại nhân dân trong giai đoạn phát triển mới.

Từ góc nhìn này, mỗi doanh nghiệp Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài không chỉ là một giao dịch thương mại, mà còn là một nút kết nối trong mạng lưới kinh tế quốc tế. Mỗi trường đại học thiết lập chương trình đào tạo liên kết không chỉ thực hiện nhiệm vụ giáo dục mà còn góp phần mở rộng mạng lưới tri thức của quốc gia. Mỗi địa phương ký kết hợp tác với địa phương nước ngoài không chỉ thúc đẩy ngoại giao địa phương mà còn tạo thêm cánh cửa để thu hút đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản trị.

Đối ngoại nhân dân vì thế cần được nhìn như một hệ sinh thái mở, nơi các chủ thể không hoạt động độc lập mà liên tục tương tác, bổ trợ và tạo ra giá trị mới. Khi một mạng lưới đủ lớn được hình thành, mỗi kết nối mới sẽ làm gia tăng giá trị cho toàn bộ hệ thống. Đây chính là nguyên lý của kinh tế nền tảng, đồng thời cũng là nguyên lý của đối ngoại nhân dân trong thời đại số.

Đầu tư cho đối ngoại nhân dân là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia

Điều tạo nên sự khác biệt giữa một chính sách ngắn hạn và một chiến lược quốc gia là tầm nhìn về tương lai. Nếu coi đối ngoại nhân dân chỉ là nhiệm vụ của một ngành hay một tổ chức, nguồn lực dành cho lĩnh vực này sẽ luôn bị giới hạn. Nhưng nếu nhìn nhận đây là một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia, đầu tư cho đối ngoại nhân dân cũng chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Đại hội XIV nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững. Đây không chỉ là định hướng đối nội mà còn là nguyên tắc tổ chức đối ngoại trong giai đoạn mới. Mọi nguồn lực của quốc gia, từ con người, văn hóa, khoa học, doanh nghiệp đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đều cần được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất phục vụ mục tiêu phát triển.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, đầu tư cho đối ngoại nhân dân trước hết là đầu tư cho hạ tầng kết nối. Đó là các nền tảng dữ liệu kết nối chuyên gia Việt Nam toàn cầu; các cơ sở dữ liệu về kiều bào, doanh nghiệp, nhà khoa học và các tổ chức quốc tế; các nền tảng số để duy trì tương tác thường xuyên giữa địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Khi những hạ tầng này được hình thành, đối ngoại nhân dân sẽ không còn phụ thuộc vào các cuộc gặp trực tiếp, mà có thể vận hành liên tục trong môi trường số.

Đầu tư cho đối ngoại nhân dân cũng là đầu tư cho nguồn nhân lực. Đó không chỉ là đào tạo cán bộ làm công tác đối ngoại, mà còn là bồi dưỡng năng lực hội nhập cho doanh nhân, nhà khoa học, sinh viên, văn nghệ sĩ, vận động viên, người lao động và thanh niên. Một quốc gia có hàng triệu công dân có khả năng giao tiếp quốc tế, hiểu biết đa văn hóa, làm việc chuyên nghiệp và tôn trọng cam kết sẽ sở hữu lợi thế mà không một khoản đầu tư vật chất nào có thể thay thế.

Quan trọng hơn cả là đầu tư cho văn hóa hợp tác. Thế giới ngày nay không thiếu những quốc gia muốn hợp tác, nhưng luôn thiếu những đối tác có khả năng cùng tạo ra giá trị mới. Đối ngoại nhân dân phải góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam không chỉ thân thiện, hiếu khách mà còn sáng tạo, chuyên nghiệp, đáng tin cậy và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm đối với các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Đó cũng là lúc đối ngoại nhân dân vượt ra khỏi khuôn khổ của hoạt động ngoại giao theo nghĩa truyền thống để trở thành một phương thức quản trị phát triển quốc gia. Giá trị lớn nhất của nó không nằm ở việc Việt Nam có thêm bao nhiêu người bạn, mà ở chỗ những người bạn ấy có thể cùng Việt Nam tạo ra bao nhiêu giá trị mới.

Trong một thế giới mà khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng được đo bằng tốc độ kết nối thay vì khoảng cách địa lý, quốc gia nào biết tổ chức tốt các mạng lưới hợp tác, huy động hiệu quả trí tuệ toàn cầu và biến các mối quan hệ thành động lực phát triển sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh lâu dài. Đối ngoại nhân dân, theo nghĩa đó, không chỉ là "sức mạnh mềm" của Việt Nam mà đang trở thành năng lực kiến tạo quốc gia - nơi mỗi kết nối đều có thể mở ra một cơ hội phát triển, mỗi quan hệ hợp tác đều có thể tạo thêm một nguồn lực mới và mỗi công dân đều có thể góp phần đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

ThS. Trương Thị Điệp

Phó Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng