Từ thực tiễn 40 năm - những bài học và vấn đề đặt ra cho giai đoạn mới

Thứ năm, 17/09/2026 - 08:00

Nhìn lại 40 năm xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Đà Nẵng nhằm chắt lọc những bài học, nhận diện những vấn đề đặt ra và xác định yêu cầu mới đối với công tác xây dựng Đảng. Từ đó, thực tiễn Đà Nẵng không chỉ cho thấy sự vận động của phương thức lãnh đạo của Đảng ở một địa phương, mà còn góp phần hoàn thiện lý luận về Đảng cầm quyền trong giai đoạn mới.

KỲ 1: ĐỔI MỚI TƯ DUY LÃNH ĐẠO - MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN

KỲ 2: TỪ THỰC TIỄN 40 NĂM - NHỮNG BÀI HỌC VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO GIAI ĐOẠN MỚI

Chặng đường 40 năm đổi mới không chỉ để lại những kinh nghiệm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn đặt ra những yêu cầu mới trước sự phát triển của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, cần tiếp tục chắt lọc những bài học và nhận diện vấn đề đặt ra để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố trong điều kiện mới.

Bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, kiên định mục tiêu, giữ vững bản lĩnh chính trị và không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo. Sự kiên định phải đi cùng khả năng nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện vấn đề mới và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng vào điều kiện cụ thể.

Thứ hai, giữ vững đoàn kết, thống nhất trên cơ sở phát huy dân chủ, tự phê bình, phê bình và trách nhiệm nêu gương. Đoàn kết chỉ bền vững khi được xây dựng trên nguyên tắc, sự công tâm và trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thứ ba, công tác cán bộ có ý nghĩa quyết định đối với năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động. Đánh giá, sử dụng cán bộ phải ngày càng gắn chặt với phẩm chất, năng lực thực tế và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, xây dựng Đảng phải gắn với cơ sở, dựa vào Nhân dân và phát huy hiệu quả công tác dân vận. Thực tiễn 40 năm cho thấy, phương thức lãnh đạo càng sát cơ sở, càng coi trọng đối thoại, lắng nghe và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí, đội ngũ nhà khoa học và Nhân dân thì càng tạo được sự đồng thuận và phát huy sức mạnh tham gia, đồng kiến tạo của xã hội. Thực tiễn giải phóng mặt bằng, chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng cho thấy, công khai, đối thoại và đồng thuận xã hội là những điều kiện quan trọng để chủ trương đi vào cuộc sống.

Sự đồng thuận xã hội trong lãnh đạo phát triển đô thị:

Trong giai đoạn 1997-2022, khoảng 120.000 hộ dân đã thực hiện di dời, giải tỏa phục vụ quy hoạch, xây dựng hạ tầng và chỉnh trang đô thị.

Kết quả khảo sát trong đề tài khoa học cấp thành phố Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo xây dựng, phát triển đô thị giai đoạn 1997-2022 (do TS. Trần Thúy Hiền chủ nhiệm) cho thấy: 94% cán bộ chủ chốt và 75,2% hộ dân được hỏi cho rằng sự đồng thuận của người dân và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền thành phố Đà Nẵng là những yếu tố quan trọng tạo nên thành công trong quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng và chỉnh trang đô thị. Những kinh nghiệm được tích lũy qua các giai đoạn phát triển, đặc biệt trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị Đà Nẵng giai đoạn 1997-2022, đến nay tiếp tục có ý nghĩa trong điều kiện mới.

Việc Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng ban hành Chỉ thị số 18-CT/TU, ngày 03-6-2026 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn thành phố cho thấy những vấn đề được đặt ra từ thực tiễn trước đây cần được quan tâm, kế thừa và phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Thứ năm, thường xuyên đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo, gắn với nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát; chủ động tranh thủ sự ủng hộ của Trung ương, tăng cường phối hợp, kết nối với các địa phương để huy động và phát huy các nguồn lực cho phát triển.

Đồng chí Huỳnh Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng:

Phải chủ động tranh thủ sự ủng hộ của Trung ương, nhất là trong việc đề xuất, tháo gỡ cơ chế, chính sách và những vấn đề vượt thẩm quyền của thành phố. Đồng thời, cần tăng cường kết nối, tranh thủ sự đồng hành của các tỉnh, thành phố và địa phương trong cả nước để chia sẻ kinh nghiệm, huy động nguồn lực phục vụ xây dựng và phát triển.

Kết quả phỏng vấn 10 đồng chí nguyên là lãnh đạo thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2022 (trong đề tài khoa học cấp thành phố của TS. Trần Thúy Hiền) cũng cho thấy đây là kinh nghiệm quan trọng cần tiếp tục phát huy.

Những bài học từ 40 năm đổi mới là cơ sở để Đảng bộ thành phố tiếp tục đổi mới công tác xây dựng Đảng. Trong không gian phát triển mới, yêu cầu về tốc độ, quy mô và chất lượng phát triển cao hơn, đòi hỏi phương thức lãnh đạo phải tiếp tục đổi mới, thích ứng và nâng cao hiệu quả.

Những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng ở thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh mới

Ngày 10-6-2026, Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 90-TB/VPTW về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Kết luận tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng Đảng, tổ chức và cán bộ, gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

Nhiệm vụ xây dựng Đảng theo Thông báo số 90-TB/VPTW ngày 10-6-2026 về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, tập trung vào một số nội dung trọng tâm:

1- Công tác xây dựng Đảng, tổ chức và cán bộ là năng lực gốc của quản trị quốc gia; có ý nghĩa quyết định đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và năng lực của bộ máy hệ thống chính trị.

2- Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của Đảng; tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức bộ máy mới.

3- Đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu đột phá.

4- Củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên; kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ cương, kỷ luật, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng.

Đối với thành phố Đà Nẵng, yêu cầu này càng cấp thiết khi thành phố bước vào giai đoạn phát triển với không gian và quy mô mới. Sau khi hợp nhất với Quảng Nam, thành phố có diện tích 11.859,59 km², dân số 3.065.628 người và 94 đơn vị hành chính cấp xã. Không gian mới mở rộng từ đô thị ven biển đến khu vực phía Tây, miền núi, với điều kiện kinh tế - xã hội, dân cư và nhu cầu phát triển khác biệt, đặt ra yêu cầu cao hơn về tổ chức bộ máy, phân cấp, phối hợp, quản lý địa bàn và phân bổ nguồn lực. Vì vậy, hợp nhất không chỉ là thay đổi về địa giới hành chính, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới năng lực và phương thức lãnh đạo của Đảng bộ, bảo đảm vừa thống nhất trong lãnh đạo, vừa phù hợp với đặc điểm từng địa bàn. Yêu cầu đó càng rõ nét trước những mục tiêu phát triển đột phá được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 của thành phố Đà Nẵng:

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 11%/năm trở lên, GRDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD, huy động hơn 660 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển; kinh tế số chiếm 35-40% GRDP, hình thành 500 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, thành phố tập trung hoàn thiện hạ tầng chiến lược, tăng cường liên kết đô thị - ven biển - miền núi phía Tây, phát huy Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu công nghệ cao, cảng biển, sân bay và logistics. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng quan trọng, với trọng tâm phát triển AI, vi mạch bán dẫn, trung tâm dữ liệu, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng cũng được đặt trong tổng thể yêu cầu phát huy các nguồn lực, khơi dậy động lực và tạo nền tảng chính trị cho sự phát triển thành phố trong giai đoạn mới.

Kế hoạch số 91-KH/TU ngày 30-5-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng triển khai thực hiện Thông báo số 45-TB/VPTW về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng:

Kế hoạch nhấn mạnh yêu cầu: Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ; đổi mới đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, gắn với kết quả công việc và trách nhiệm cá nhân; đồng thời đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo và trách nhiệm cống hiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân được đặt gắn với mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành cực tăng trưởng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước.

Từ thực tiễn 40 năm - những bài học và vấn đề đặt ra cho giai đoạn mới - Ảnh 1.

Không gian đô thị trung tâm Đà Nẵng ngày nay với cơ sở hạ tầng được quy hoạch đồng bộ, hiện đại. Nguồn: Ảnh lưu tại Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đà Nẵng

Từ những yêu cầu trên, thực tiễn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong công tác xây dựng Đảng ở thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh mới:

Một là, vấn đề tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố Đà Nẵng trong không gian mới.

Thực tiễn cho thấy cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực hiện, khắc phục sự dàn trải, hành chính hóa trong hoạt động của cấp ủy; đồng thời nâng cao năng lực dự báo, ra quyết định và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Kế hoạch số 91-KH/TU cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ số.

Hai là, vấn đề giữ vững sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong điều kiện thành phố có không gian phát triển rộng hơn và cơ cấu xã hội ngày càng đa dạng.

Thành phố Đà Nẵng mới được hình thành trên một không gian rộng lớn hơn, với sự khác biệt về điều kiện phát triển, đặc điểm dân cư, đời sống kinh tế - xã hội giữa các khu vực. Điều đó đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc giữ vững sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ.

Vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng không chỉ là tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, mà quan trọng hơn là làm thế nào để chủ trương của Đảng được nhận thức đúng, được giải thích phù hợp với thực tiễn và tạo được sự thống nhất trong hành động. Trong điều kiện thông tin đa chiều và những vấn đề mới nảy sinh ngày càng nhiều, công tác tư tưởng cần nâng cao hơn nữa tính chủ động, khả năng dự báo, định hướng và sức thuyết phục; qua đó củng cố sự thống nhất trong Đảng, tạo đồng thuận trong xã hội và giữ vững niềm tin của Nhân dân.

Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới:

Nghị quyết xác định phương châm "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả", nhấn mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng, tăng cường nắm bắt, phân tích, dự báo và định hướng nhận thức xã hội. Công tác tư tưởng được chuyển mạnh về cơ sở, gắn không gian thực với không gian số; đổi mới tuyên truyền, quán triệt nghị quyết theo hướng đối thoại, thuyết phục, gắn với tổ chức thực hiện. Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu và sử dụng dữ liệu, công nghệ, trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng.

Ba là, vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức gắn với trách nhiệm nêu gương và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

Yêu cầu đặt ra không chỉ là xác lập chuẩn mực đạo đức mà quan trọng hơn là làm cho các chuẩn mực đó trở thành ý thức tự giác và được thể hiện trong thực hiện nhiệm vụ. Trong giai đoạn mới, cần gắn đạo đức, nêu gương với tinh thần phục vụ Nhân dân và trách nhiệm đối với sự phát triển chung; như Kế hoạch số 91-KH/TU yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bốn là, vấn đề tiếp tục đổi mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong giai đoạn mới.

Thực tiễn cho thấy, đánh giá, lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ là những khâu quyết định đến chất lượng lãnh đạo; quy trình chặt chẽ chưa đồng nghĩa với lựa chọn được cán bộ có năng lực và hiệu quả công việc cao. Vì vậy, cần coi trọng năng lực thực tiễn, kết quả và hiệu quả công việc; đồng thời phát hiện, trọng dụng người có năng lực, kiểm soát quyền lực và tạo môi trường để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Năm là, vấn đề xây dựng tổ chức đảng tinh gọn, phù hợp với mô hình tổ chức mới nhưng vẫn bảo đảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.

Sắp xếp tổ chức bộ máy là yêu cầu tất yếu, song tinh gọn đầu mối chưa đồng nghĩa với nâng cao hiệu quả hoạt động; nếu chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế phối hợp chưa rõ có thể phát sinh chồng chéo hoặc khoảng trống. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức, chức năng, phương thức hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng theo hướng tinh gọn, rõ chức năng, sâu sát cơ sở và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu.

Sáu là, vấn đề nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong Đảng trong điều kiện phân cấp, phân quyền.

Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ đã khơi thông nguồn lực và phát huy tính sáng tạo tại cơ sở của Đà Nẵng, song đi kèm nguy cơ lạm quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo nếu thiếu kiểm soát. Thách thức lớn nhất hiện nay là thiết kế công tác kiểm tra, giám sát hiệu quả mà không làm nhụt chí cán bộ, qua đó triệt tiêu tâm lý né tránh, sợ sai và sợ trách nhiệm gây cản trở phát triển.

Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07-4-2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng:

Nghị quyết nhấn mạnh kiểm tra, giám sát không chỉ là công cụ để phát hiện và xử lý vi phạm mà còn là phương thức "phòng ngừa, cảnh báo sớm". Đây là bước chuyển quan trọng, gắn chặt với yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Nghị quyết xác định 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

1- Tạo chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.

2- Nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và hoàn thiện các quy định.

3- Đổi mới tư duy, phương pháp kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực.

4- Chuyển đổi số toàn diện trong ngành Kiểm tra Đảng.

5- Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực ủy ban kiểm tra và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra.

6- Tăng cường phối hợp giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan liên quan.

Bảy là, vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên trước những thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội.

Sự phát triển của kinh tế tư nhân, doanh nghiệp ngoài nhà nước và kinh tế số đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức cơ sở đảng và công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên. Trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng tập hợp quần chúng và tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong những môi trường mới.

Tám là, vấn đề đổi mới công tác xây dựng Đảng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và phương thức quản trị hiện đại.

Chuyển đổi số không chỉ dừng ở số hóa hồ sơ, ứng dụng công nghệ mà cần khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng lãnh đạo, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và nắm tình hình. Vì vậy, công tác xây dựng Đảng cần từng bước chuyển sang phương thức làm việc dựa trên thông tin, dữ liệu và kết quả, qua đó nâng cao năng lực dự báo, chất lượng quyết định và hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng.

TS. Trần Thúy Hiền - TS. Lê Thị Ngọc Lệ

Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng