Từ xóa đói giảm nghèo đến thoát nghèo bền vững: Giải pháp khai thác kinh tế số cho đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ tư, 04/11/2026 - 08:00

Một chiếc điện thoại có thể giúp người trồng chè tìm khách mua, người dệt thổ cẩm giới thiệu sản phẩm, người làm du lịch cộng đồng nhận đặt phòng. Nhưng ở nhiều bản làng, từ việc có sóng điện thoại đến bán được hàng vẫn là một quãng đường dài. Muốn kinh tế số giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững, phải giải quyết những vướng mắc trên quãng đường ấy, nhất là kỹ năng, đầu ra và khả năng tự làm chủ của người dân.

1. Giảm nghèo đã chuyển biến, nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn còn

Diện mạo nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã thay đổi rõ rệt trong những năm qua. Đường đến trung tâm xã thuận tiện hơn, điện lưới và dịch vụ thiết yếu đến gần người dân hơn. Các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021–2025 tiếp tục hỗ trợ hạ tầng, giáo dục, y tế, sản xuất và sinh kế ở những địa bàn khó khăn. Đằng sau các công trình và khoản hỗ trợ là những cơ hội mới: người dân đi học nghề, đưa nông sản ra khỏi bản, tiếp cận vốn và tìm việc làm. Dẫu vậy, khi một hộ được công nhận thoát nghèo, câu hỏi vẫn còn đó: họ đã có nguồn sống đủ vững để không rơi trở lại cảnh thiếu thốn hay chưa?

Số liệu cho thấy một bước tiến đáng kể. Theo Báo Điện tử Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 12,55% năm 2024 xuống 9,71% năm 2025; tỷ lệ hộ nghèo cả nước trong cùng thời gian giảm từ 1,93% xuống 1,3% [1]. Tuy nhiên, mức nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn cao hơn mặt bằng chung. Khoảng cách ấy gắn với nhiều bất lợi chồng lên nhau: địa hình chia cắt, chi phí vận chuyển lớn, việc làm chưa ổn định và khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế. Một gia đình có thể vượt chuẩn nghèo sau vụ mùa thuận lợi, rồi lại gặp khó khi nông sản rớt giá hoặc người lao động chính đau ốm. Bởi thế, kết quả giảm nghèo cần được nhìn trong khả năng duy trì sinh kế của từng hộ.

Thoát nghèo bền vững đòi hỏi nhiều hơn một mức thu nhập vượt chuẩn. Người dân cần công việc có thể duy trì, biết tính toán chi phí, có thông tin để quyết định sản xuất và có khoản dự phòng khi gặp rủi ro. Trẻ em phải được học hành; người lớn có cơ hội nâng kỹ năng; phụ nữ và thanh niên có tiếng nói trong việc sử dụng nguồn lực của gia đình. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số mở ra một lựa chọn đáng chú ý. Internet có thể rút ngắn đường đến thị trường, giúp người làm ra sản phẩm tiếp xúc với khách mua mà không phải chờ thương lái tới tận nơi. Nhưng chiếc điện thoại chỉ đem lại lợi ích khi người dùng có đủ kiến thức và điều kiện biến kết nối thành thu nhập.

2. Sinh kế số bắt đầu từ những việc gần gũi

Nông nghiệp, chăn nuôi, nghề thủ công và du lịch cộng đồng vẫn là chỗ dựa sinh kế của nhiều gia đình dân tộc thiểu số. Trong mỗi sản phẩm có kinh nghiệm canh tác, tay nghề và tri thức bản địa được truyền qua nhiều thế hệ. Khó khăn thường xuất hiện ở khâu đưa sản phẩm ra thị trường: sản lượng ít, mùa vụ ngắn, đường vận chuyển xa, thông tin giá cả thiếu cập nhật. Có nơi sản phẩm tốt nhưng chỉ bán ở dạng nguyên liệu; người làm ra hàng nhận phần giá trị khá thấp. Đưa công nghệ vào sinh kế không có nghĩa phải bỏ cách làm truyền thống. Điều đáng làm là giữ phần tinh túy của nghề, đồng thời thay đổi những khâu đang khiến người dân tốn công mà thu nhập ít.

Sinh kế số có thể bắt đầu từ những việc nhỏ. Một hộ trồng chè xem dự báo thời tiết, ghi lại quy trình chăm sóc và nhận đơn hàng qua mạng. Người dệt thổ cẩm chụp ảnh mẫu mới, trò chuyện với khách, tính phí giao hàng và theo dõi tiền về tài khoản. Hộ làm homestay đăng thông tin phòng, trả lời câu hỏi và nhận đặt chỗ trước. Họ không cần trở thành chuyên gia công nghệ; điều quan trọng là dùng được công cụ phù hợp với công việc. Khi những thao tác ấy trở thành thói quen, người dân có thêm dữ liệu về khách hàng, giá bán, chi phí và khả năng tiêu thụ để chủ động quyết định vụ sau làm gì, làm bao nhiêu.

Lợi ích dễ thấy của kinh tế số là giảm thời gian tìm kiếm người mua và nắm bắt nhu cầu thị trường. Hình ảnh, câu chuyện về vùng nguyên liệu, người làm nghề và cách sản xuất có thể giúp một món hàng được nhận diện thay vì lẫn vào dòng sản phẩm không rõ xuất xứ. Thanh toán trực tuyến, ghi chép đơn hàng và quản lý tồn kho cũng giúp việc kinh doanh bớt phụ thuộc vào trí nhớ. Song doanh số trên mạng không phải là lợi nhuận. Phí nền tảng, đóng gói, vận chuyển, quảng cáo và hàng bị trả lại đều phải tính vào giá thành. Nếu chỉ nhìn số lượt xem hoặc số đơn, một mô hình có vẻ thành công vẫn có thể khiến người bán lỗ công.

3. Những người trẻ nối bản làng với thị trường

Chảo Thị Yến, người Dao Tuyển ở Lào Cai, từng nhìn thấy một khoảng trống rất cụ thể: bà con có nông sản nhưng chưa biết đưa lên TikTok; người biết làm nội dung lại không có sản phẩm. Theo bài viết của Báo Điện tử Chính phủ ngày 6/7/2023, Yến đã hướng dẫn các nhóm nông dân làm quen với nền tảng này, từ việc ghi hình đến giới thiệu hàng hóa [2]. Trường hợp của Yến không đủ để khẳng định bán hàng trực tuyến đã giúp cả vùng tăng thu nhập. Điều đáng chú ý nằm ở cách một người trẻ nối hai phía vốn ít gặp nhau: người sản xuất hiểu sản phẩm, còn thanh niên có thể giúp sản phẩm ấy được nhìn thấy và được hỏi mua trên môi trường số.

Tại Bát Xát, Lào Cai, việc đưa công nghệ đến người dân đi từ nhà văn hóa thôn. Báo Điện tử Chính phủ tháng 3/2026 cho biết xã đã triển khai mô hình "thôn số" tại bảy thôn; Tổ chuyển đổi số xã thực hiện hơn 95 lượt hỗ trợ cài đặt, sử dụng thiết bị và giải quyết vướng mắc [3]. Có người được hướng dẫn làm thủ tục hành chính, có người tham gia tập huấn hoặc đăng ký việc làm qua điểm kết nối trực tuyến. Những hoạt động ấy chưa thể tính ngay thành thu nhập tăng thêm. Nhưng chúng giúp người dân bớt ngại thao tác với điện thoại, biết tìm sự hỗ trợ ở đâu khi gặp lỗi. Đó là bước khởi đầu cần thiết trước khi nói đến mở gian hàng hay quản lý kinh doanh.

Các tổ chức Đoàn cũng bắt đầu gắn hoạt động khởi nghiệp với kinh tế số và sản phẩm địa phương. Tháng 7/2026, Trung ương Đoàn phối hợp với Tỉnh đoàn Lào Cai tổ chức tọa đàm ở Sa Pa về phát triển sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số [4]. Một buổi trao đổi có thể giúp thanh niên gặp chuyên gia, đơn vị phân phối và tìm thêm ý tưởng kinh doanh. Nhưng sau ngày hội, người bán vẫn phải tự chụp ảnh, nhập đơn, đóng hàng, xử lý khách phàn nàn và cân đối thu chi. Vì vậy, giá trị của các chương trình hỗ trợ phải được kiểm chứng ở những tháng tiếp theo, khi gian hàng còn hoạt động và sản phẩm còn bán được, chứ không chỉ ở số người dự sự kiện.

4. Có mạng chưa chắc đã có cơ hội như nhau

Những con số về độ phủ viễn thông dễ khiến người đọc nghĩ rằng trở ngại kết nối đã được giải quyết. Báo cáo năm 2025 cho biết 100% xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có hạ tầng viễn thông và sóng di động; 96,7% hộ dân tộc thiểu số sử dụng điện lưới quốc gia [5]. Nhưng một xã có sóng không có nghĩa mọi thôn trong xã đều kết nối tốt. Tháng 3/2026, Bát Xát vẫn ghi nhận khoảng mười thôn có mạng chập chờn [3]. Đến tháng 10 cùng năm, chương trình xử lý 1.856 điểm lõm sóng ở 23 tỉnh, thành vẫn đang triển khai [6]. Với người bán hàng qua video, một cuộc gọi rớt giữa chừng hay mã xác thực không đến đúng lúc có thể làm mất khách. Chất lượng đường truyền vì thế quan trọng không kém tỷ lệ phủ sóng trên báo cáo.

Có mạng rồi, sử dụng được đến đâu lại là câu chuyện khác. Nhiều người quen gọi điện, nhắn tin nhưng lúng túng khi lập tài khoản bán hàng, kiểm tra tiền chuyển khoản hoặc xử lý đơn bị trả lại. Người lớn tuổi có thể khó đọc chữ nhỏ trên màn hình; người ít dùng tiếng Việt phổ thông gặp thêm rào cản với các hướng dẫn dài và nhiều thuật ngữ. Phụ nữ vừa làm nương vừa chăm lo gia đình cũng khó thu xếp tham gia những khóa học kéo dài. Việc cấp thiết bị hoặc tổ chức một buổi tập huấn là đầu vào. Năng lực thực sự chỉ hình thành khi người học tự thao tác được, biết sửa lỗi thông thường và không phải nhờ người khác mỗi lần có đơn hàng mới.

Đầu ra của sản phẩm còn vướng những việc rất "đời thường". Một buổi livestream có thể nhận nhiều đơn, nhưng nông sản không được phân loại, đóng gói kém hoặc chậm giao thì khách khó quay lại. Hộ sản xuất nhỏ lẻ ít khả năng thương lượng phí vận chuyển và khó duy trì chất lượng đồng nhất giữa các đợt hàng. Chuyện truy xuất nguồn gốc cũng vậy: tem QR chỉ hữu ích nếu dẫn đến thông tin đúng, được cập nhật và có người chịu trách nhiệm. Chỉ dán mã lên bao bì chưa làm cho sản phẩm an toàn hơn. Muốn bán tốt trên mạng, phải xử lý cả khâu sản xuất, bảo quản, kiểm định và vận chuyển ở ngoài đời.

Rủi ro khác nằm ngay trên màn hình. Người mới kinh doanh có thể gặp tin nhắn giả mạo đơn hàng, đường dẫn đánh cắp tài khoản, lời mời nộp phí trước hoặc quảng cáo quá khả năng chi trả. Các nền tảng cũng có thể thay đổi cách hiển thị và mức phí, khiến lượng khách đến không đều. Với hộ nghèo hoặc cận nghèo, một khoản lỗ nhỏ đôi khi đã ảnh hưởng đến chi tiêu thiết yếu. Thanh toán số giúp nhận và chuyển tiền thuận tiện, nhưng không tự động mở ra vốn vay an toàn; tín dụng vẫn cần điều kiện phù hợp và khả năng trả nợ. Những rủi ro này phải được nói thẳng trong các lớp đào tạo. Nếu người dân chỉ học cách bán mà không học cách tự bảo vệ, lợi ích của kinh tế số sẽ rất mong manh.

5. Để kinh tế số tạo được sinh kế lâu dài

Hạ tầng phải đến đúng nơi còn thiếu. Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ phủ sóng cấp xã, các địa phương nên rà soát từng thôn, cụm dân cư, kiểm tra chất lượng internet vào thời điểm người dân thực sự sử dụng. Những nơi có vùng nguyên liệu, điểm du lịch cộng đồng, trường học hoặc địa điểm cung cấp dịch vụ công cần được tính toán trong thứ tự đầu tư. Trạm phát sóng sẽ không phát huy hiệu quả nếu thiếu đường truyền, điện ổn định và người bảo dưỡng. Ở khu vực khó kéo lưới, có thể nghiên cứu điện mặt trời kết hợp nguồn dự phòng, nhưng phải dự tính cả chi phí sửa chữa, thay pin. Chỉ tiêu cuối cùng nên là người dân có kết nối đủ tốt để học, giao dịch và làm việc, thay vì chỉ thấy màu phủ sóng trên bản đồ.

Dạy kỹ năng số phải bắt đầu từ công việc của người học. Người chưa quen điện thoại có thể học cách nhận diện cuộc gọi lừa đảo, giữ mật khẩu, kiểm tra giao dịch. Người đã có sản phẩm thì thực hành chụp một bộ ảnh, viết mô tả đúng, tính giá sau khi cộng phí giao hàng và xử lý đơn hoàn trả. Nhóm kinh doanh ổn định hơn mới cần học quảng cáo, quản lý dữ liệu khách hàng hay đánh giá hiệu quả từng kênh bán. Mỗi buổi học nên ít lý thuyết và có sản phẩm cụ thể mang về: một gian hàng hoàn chỉnh, một bảng tính chi phí, một video giới thiệu trung thực. Cách hướng dẫn bằng hình ảnh, bằng tiếng nói gần gũi, có người theo sát sẽ phù hợp hơn những bài giảng dày thuật ngữ.

Thanh niên địa phương có thể đảm nhận phần việc mà một lớp tập huấn tập trung khó làm được: đến từng hộ khi cần. Đoàn Thanh niên nên phối hợp với trường học, hợp tác xã, doanh nghiệp viễn thông và các đơn vị phân phối để hình thành nhóm hỗ trợ sinh kế số tại xã, thôn. Người trong nhóm có thể giúp cập nhật thông tin sản phẩm, kiểm tra đơn, đối soát tiền, cảnh báo tài khoản giả mạo. Hoạt động phải có lịch hỗ trợ và người tiếp nhận rõ ràng, tránh tình trạng hết chiến dịch là gian hàng bỏ không. Thanh niên dân tộc thiểu số hiểu tiếng nói, phong tục và nhịp sống của bản mình; đó là lợi thế khó thay thế. Nếu họ làm công việc chuyên môn thường xuyên, cũng cần có cơ chế trả công, bồi dưỡng phù hợp.

Bán hàng số không thể tách khỏi tổ chức lại sản xuất. Mỗi địa phương nên chọn một số sản phẩm có chất lượng, nguồn cung tương đối ổn định và khả năng vận chuyển, rồi mới xây dựng kênh bán phù hợp. Hợp tác xã hoặc doanh nghiệp liên kết có thể giúp gom hàng, phân loại, sơ chế, đóng gói và giải quyết đơn trả lại. Người sản xuất cần biết cách tính giá, hiểu tiêu chuẩn chất lượng và được chia lợi ích minh bạch. Với sản phẩm OCOP, thông tin truy xuất phải xác minh được chủ thể, vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất, không dừng ở một mã QR đẹp mắt. Nên thử từ các thị trường gần, số đơn vừa sức, sau đó mở rộng từng bước. Khách mua quay lại mới là dấu hiệu đáng tin hơn một đợt bán hàng gây chú ý.

Với du lịch cộng đồng, công nghệ giúp khách tìm hiểu và đặt dịch vụ trước chuyến đi. Các nhóm thanh niên có thể hỗ trợ hộ làm homestay xây dựng trang thông tin rõ giá, đường đi, lịch phòng và quy tắc ứng xử; hình ảnh nên phản ánh đúng không gian sống. Khi giới thiệu nghề dệt, nghề đan hay ẩm thực truyền thống, câu chuyện cần được kể từ góc nhìn của người đang gìn giữ nghề. Cộng đồng phải có tiếng nói về việc quay phim, dùng họa tiết, công bố hình ảnh và phân chia lợi ích. Du lịch tăng khách nhưng gây quá tải, rác thải hoặc làm xáo trộn sinh hoạt thì khó gọi là phát triển bền vững. Kinh tế số nên tạo thêm việc làm để người trẻ có lựa chọn ở lại quê hương, đồng thời giữ được những điều làm nên sức hút của bản làng.

Hỗ trợ tài chính nên bám sát việc người dân định làm. Có hộ cần gói cước rẻ, có hộ cần điểm truy cập internet chung, có hợp tác xã cần thiết bị đóng gói hoặc kho bảo quản tốt hơn. Cấp điện thoại hàng loạt không giải quyết được những nhu cầu khác nhau ấy. Vốn vay ưu đãi, nếu được sử dụng, phải đi kèm phương án kinh doanh và khả năng trả nợ. Các ngân hàng, đơn vị thanh toán và tổ chức hỗ trợ cần hướng dẫn người dân kiểm tra đúng tên người nhận, lưu chứng từ, xử lý khi nghi bị lừa đảo. Một cuốn sổ ghi thu chi, dù viết tay hay trên điện thoại, vẫn rất cần thiết. Người bán phải biết mỗi đơn hàng thực sự còn lãi bao nhiêu.

Chính sách giai đoạn mới tạo điều kiện để làm những việc này đồng bộ hơn. Nghị quyết số 46/2026/QH16 đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035 trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình [7]. Địa phương cần gắn phần đầu tư hạ tầng với đào tạo nghề, phát triển sản phẩm và kết nối thị trường; xác định rõ đơn vị chịu trách nhiệm từng khâu. Khi đánh giá, đừng chỉ đếm số tài khoản được mở hay số lượt tập huấn. Hãy theo dõi hộ nào duy trì được gian hàng, thu nhập ròng thay đổi ra sao, khách có quay lại không, phụ nữ và người lớn tuổi có thực sự tham gia được không. Những câu trả lời ấy mới giúp biết chính sách đang có tác dụng ở đâu và cần sửa chỗ nào.

6. Kết luận

Kinh tế số không thể thay thế đất sản xuất, tay nghề, đường giao thông hay các dịch vụ cơ bản. Nó phát huy tác dụng khi được đặt cạnh những điều kiện ấy, giúp người dân tìm khách hàng, quản lý việc bán hàng và tiếp cận thông tin tốt hơn. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thước đo thuyết phục nhất không phải số người xem một phiên livestream mà là số hộ có thể duy trì thu nhập, trả được chi phí, có khách hàng ổn định và ít bị tổn thương hơn trước những biến động của thị trường.

Thanh niên có thể góp phần làm cho sự thay đổi ấy diễn ra nhanh hơn. Họ hiểu công nghệ, gần người dân và nhiều người còn có lợi thế nói được ngôn ngữ của chính cộng đồng mình. Nhưng vai trò xung kích sẽ có ý nghĩa lâu dài hơn nếu được đặt trong những mô hình làm ăn có tổ chức, được đào tạo và có nguồn lực duy trì. Khi người trồng chè biết tự theo dõi đơn hàng, người làm nghề thủ công biết tính đúng giá sản phẩm, hộ làm du lịch chủ động đón khách và giữ gìn bản sắc, chuyển đổi số mới thật sự đi vào cuộc sống. Đó cũng là cách biến mục tiêu thoát nghèo bền vững thành những thay đổi cụ thể trong từng gia đình.

TS. Nguyễn Văn Đới - ThS. Lê Ngọc nghĩa

Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo

[1] Báo Điện tử Chính phủ (23/9/2026), "Để chính sách tìm đúng ‘địa chỉ’". Xem nguồn

[2] Báo Điện tử Chính phủ (06/7/2023), "Nhiều triển vọng từ bán hàng nông sản online". Xem nguồn

[3] Báo Điện tử Chính phủ (23/3/2026), "Đưa Nghị quyết 57 vào từng nếp nhà vùng biên". Xem nguồn

[4] Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (30/7/2026), "Giúp thanh niên khởi nghiệp từ chính sản phẩm địa phương trong kỷ nguyên số". Xem nguồn

[5] Báo Điện tử Chính phủ (09/7/2025), "Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp". Xem nguồn

[6] Báo Điện tử Chính phủ (02/10/2026), "Chiến dịch xóa ‘lõm sóng’ của Viettel". Xem nguồn

[7] Quốc hội (24/8/2026), Nghị quyết số 46/2026/QH16 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. Xem nguồn