Vai trò đồng kiến tạo của các trường Đại học và Học viện trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong phát triển xanh, số và bền vững hiện nay

Thứ bảy, 29/08/2026 - 13:26

Khánh Hòa đang đứng trước yêu cầu đồng thời duy trì tăng trưởng hai con số, tạo nền tảng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và bảo đảm phát triển xanh, số, bền vững. Bài viết xác định mạng lưới các trường đại học và học viện trên địa bàn tỉnh - gồm cơ sở dân sự, phân hiệu/cơ sở đào tạo và các học viện, nhà trường quân đội - là một chủ thể đồng kiến tạo, không chỉ là nơi cung ứng nhân lực.

Trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và định hướng phát triển Khánh Hòa, bài viết phân tích lợi thế bổ trợ giữa các nhóm cơ sở; làm rõ năm nhóm vai trò về tri thức chính sách, nhân lực và đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh - biển, hệ sinh thái số, văn hóa - xã hội và quốc phòng, an ninh. Từ đó, đề xuất mô hình mạng lưới đại học - học viện đồng kiến tạo cùng các giải pháp để chuyển hóa nguồn lực trí thức tại chỗ thành năng lực phát triển của tỉnh.

Từ khóa: đồng kiến tạo; trường đại học; học viện quân đội; Khánh Hòa; tăng trưởng hai con số; phát triển xanh; chuyển đổi số; phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Khánh Hòa đang bước vào giai đoạn phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 [6]. Nghị quyết số 09-NQ/TW định hướng đến năm 2030 xây dựng Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương [1]. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đặt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân 11 - 12%/năm, tỷ lệ đô thị hóa đạt 70% và tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 35% [8]. Những mục tiêu đó đòi hỏi năng suất mới từ khoa học, công nghệ, dữ liệu, nhân lực và đổi mới sáng tạo; đồng thời phải bảo vệ hệ sinh thái, bản sắc và quốc phòng, an ninh.

Mạng lưới các trường đại học và học viện trên địa bàn tỉnh là nguồn lực trí thức tại chỗ có giá trị chiến lược. Trong bài viết, cụm từ này chỉ các cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở, phân hiệu hoặc cơ sở đào tạo tại Khánh Hòa, bao gồm cơ sở dân sự và các học viện, nhà trường quân đội. Sự khác biệt về sứ mạng, cơ quan chủ quản và chuyên môn tạo khả năng bổ trợ giữa khoa học biển - thủy sản, nông nghiệp - môi trường, công nghệ số, kinh tế - quản trị, du lịch - văn hóa, thông tin liên lạc, hải quân và hàng không.

Vấn đề khoa học cần giải quyết là chuyển từ sự hiện diện của nhiều cơ sở đào tạo sang năng lực phối hợp tạo ra giá trị phát triển chung. Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: cơ sở lý luận, chính trị của vai trò đồng kiến tạo; cấu trúc và lợi thế của mạng lưới đại học - học viện trên địa bàn tỉnh; mô hình và giải pháp gắn năng lực từng nhóm cơ sở với mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương và phát triển xanh, số, bền vững. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, kết hợp tiếp cận hệ thống và liên ngành; không trình bày kết quả khảo sát thực nghiệm.

Vai trò đồng kiến tạo của các trường Đại học và Học viện trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong phát triển xanh, số và bền vững hiện nay - Ảnh 1.

2. Cơ sở lý luận, chính trị và khung khái niệm 

2.1. Cơ sở lý luận và chính trị

Từ góc nhìn của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển xã hội không thể tách rời con người và các quan hệ xã hội. C. Mác khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [3, tr.11]. Luận điểm này gợi mở rằng phát triển xanh, số và bền vững không chỉ là xây dựng hạ tầng kỹ thuật, cảng biển, đô thị hay nền tảng số, mà còn là quá trình tổ chức hài hòa quan hệ giữa con người với con người, con người với công nghệ, con người với tự nhiên, cộng đồng với chính quyền và phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh bổ sung chiều sâu nhân văn cho cách tiếp cận này. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người viết: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em" [5, tr.35]. Theo tinh thần đó, giáo dục không chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt, mà còn chuẩn bị nền tảng lâu dài cho phát triển quốc gia và địa phương. Đối với Khánh Hòa, các trường phải góp phần hình thành nhân lực chất lượng cao, công dân xanh, công dân số, công dân biển và lớp thanh niên có tri thức, trách nhiệm, khát vọng cống hiến.

Quan điểm của Đảng tạo cơ sở chính trị trực tiếp cho yêu cầu trên. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; nhấn mạnh các yếu tố thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược [2]. Nghị quyết số 09-NQ/TW yêu cầu phát triển Khánh Hòa thành cực tăng trưởng, trung tâm về kinh tế biển, du lịch, công nghiệp công nghệ cao, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực; đồng thời nâng cao chất lượng các trường đại học theo chuẩn khu vực và quốc tế [1]. Những định hướng này đòi hỏi đại học phải đi vào chuỗi tạo giá trị của địa phương, thay vì chỉ đứng ở khâu đào tạo đầu vào.

2.2. Đồng kiến tạo và hệ sinh thái phát triển địa phương

Trong bài viết này, đồng kiến tạo được hiểu là quá trình nhiều chủ thể cùng xác định vấn đề, tạo lập tri thức, thiết kế giải pháp, huy động nguồn lực, thử nghiệm mô hình, đánh giá tác động và điều chỉnh chính sách để tạo ra giá trị chung. Cách tiếp cận này gần với mô hình Năm vòng xoắn (Quintuple Helix), trong đó đổi mới sáng tạo hình thành từ tương tác giữa Nhà nước, đại học, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội và môi trường tự nhiên [4]. Đại học không thay thế quyền quản lý của Nhà nước, nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp hay kinh nghiệm sống của cộng đồng; giá trị riêng có của đại học nằm ở năng lực kết nối tri thức, dữ liệu, đào tạo, công nghệ và phản biện.

Hệ sinh thái xanh, số và bền vững của Khánh Hòa là chỉnh thể liên kết giữa con người, đô thị, biển đảo, nông nghiệp, năng lượng, văn hóa, dữ liệu, công nghệ, doanh nghiệp, chính quyền, cộng đồng và tự nhiên. Ba thuộc tính "xanh", "số" và "bền vững" không tồn tại tách biệt: chuyển đổi số phải giúp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn; chuyển đổi xanh cần dựa trên dữ liệu và đổi mới sáng tạo; tăng trưởng nhanh phải đi cùng chất lượng sống, công bằng, sức chống chịu, bản sắc và an ninh. Do đó, đóng góp của đại học phải được đo bằng tác động đối với năng suất, chất lượng quản trị, môi trường và xã hội, không chỉ bằng số lượng hội thảo, biên bản hợp tác hay công bố khoa học.

3. Bối cảnh phát triển và nguồn lực đại học - học viện của Khánh Hòa 

3.1. Ba đích đến phát triển có quan hệ hữu cơ

Không gian phát triển mới của Khánh Hòa có tính đa cực: Nha Trang mạnh về du lịch, dịch vụ và đô thị biển; Cam Ranh gắn với hàng không, vịnh biển và logistics; Vân Phong có lợi thế cảng nước sâu, công nghiệp và năng lượng; phía nam tỉnh giàu tiềm năng năng lượng tái tạo, nông nghiệp thích ứng khí hậu, văn hóa Chăm và du lịch sinh thái; Trường Sa tạo chiều sâu chiến lược về chủ quyền, quốc phòng, an ninh. Quyết định số 757/QĐ-TTg xác định phạm vi lập Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa trên toàn bộ địa giới hành chính tỉnh và phần không gian biển đến ranh giới cách mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm 6 hải lý [7, tr.2].

Trong cấu trúc này, mục tiêu tăng trưởng hai con số tạo áp lực nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đòi hỏi chuẩn quản trị, hạ tầng, dịch vụ và chất lượng sống cao hơn; mục tiêu xanh, số, bền vững đặt ra giới hạn và tiêu chuẩn cho phương thức tăng trưởng. Ba đích đến không thể tách rời: nếu thiếu khoa học và nhân lực, tăng trưởng khó bền; nếu thiếu dữ liệu và quản trị tích hợp, đô thị khó thông minh; nếu xem nhẹ sinh thái, văn hóa và quốc phòng, an ninh, quá trình đô thị hóa có thể tạo thêm rủi ro. Đây chính là không gian để các trường đại học, học viện chuyển năng lực chuyên môn thành sản phẩm phát triển cụ thể.

3.2. Mạng lưới đa dạng và lợi thế bổ trợ

Trên địa bàn tỉnh hiện diện một mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đa dạng. Khối dân sự có các trường đặt trụ sở tại tỉnh như Trường Đại học Nha Trang, Trường Đại học Khánh Hòa, Trường Đại học Thái Bình Dương; các phân hiệu, cơ sở của trường ngoài tỉnh, trong đó có Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tại Khánh Hòa và, trong không gian tỉnh sau sắp xếp, Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận [9; 13; 14]. Khối quân đội có Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Thông tin (Trường Đại học Thông tin liên lạc) và Trường Sĩ quan Không quân [9]. Việc nhận diện đầy đủ hai khối có ý nghĩa quan trọng, bởi các nhà trường quân đội không đứng ngoài hệ sinh thái tri thức của địa phương, dù sự tham gia phải đúng chức năng, thẩm quyền, quy chế phối hợp và yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự.

Lợi thế của mạng lưới nằm ở tính bổ trợ. Trường Đại học Nha Trang có thế mạnh về khoa học - công nghệ biển, thủy sản và chuyển giao tri thức đa lĩnh vực [10]. Trường Đại học Khánh Hòa có khả năng đóng góp về sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa, du lịch, nghệ thuật, ngoại ngữ và truyền thông [11]. Trường Đại học Thái Bình Dương cùng các phân hiệu, cơ sở đào tạo khác bổ sung năng lực về kinh doanh, logistics, công nghệ thông tin, du lịch, liên kết doanh nghiệp và đào tạo ứng dụng [12; 13]. Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận tạo cầu nối cho nông nghiệp công nghệ cao, tài nguyên, môi trường và sinh kế thích ứng khí hậu ở phía nam tỉnh [14].

Khối quân đội tạo nên nét đặc thù hiếm có của Khánh Hòa. Học viện Hải quân là trung tâm giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học của Quân chủng Hải quân và Quân đội, có nền tảng về tri thức hải quân, mô phỏng, biển đảo và xây dựng nhà trường thông minh [15]. Trường Sĩ quan Thông tin có thế mạnh về chỉ huy, tham mưu thông tin, công nghệ thông tin, chuyển đổi số và tác chiến không gian mạng [16]. Trường Sĩ quan Không quân đào tạo phi công quân sự, gắn với kỹ thuật hàng không, tổ chức huấn luyện và an toàn bay [17]. Những năng lực này có thể tạo giá trị lưỡng dụng phù hợp trong dự báo - ứng phó thiên tai, cứu hộ, an toàn thông tin, giáo dục chủ quyền, mô phỏng và quản trị rủi ro, nhưng phải được khai thác trong phạm vi được phép.

Vai trò đồng kiến tạo của các trường Đại học và Học viện trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong phát triển xanh, số và bền vững hiện nay - Ảnh 2.

4. Vai trò đồng kiến tạo của các trường đại học và học viện trên địa bàn tỉnh 

4.1. Đồng kiến tạo tri thức chính sách và năng lực quản trị đô thị

Để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Khánh Hòa cần nâng cấp đồng thời chất lượng quy hoạch, quản trị đô thị, dịch vụ công, quản trị biển, điều phối vùng và năng lực dự báo. Các trường đại học, học viện có thể hình thành các nhóm nghiên cứu liên trường để cung cấp bằng chứng về sức tải du lịch, chuyển dịch sinh kế ven biển, phân bố dân cư, nhu cầu nhân lực, quản trị logistics, bảo tồn văn hóa, thích ứng khí hậu và rủi ro quốc phòng, an ninh. Khối kỹ thuật tạo mô hình và dữ liệu; khối kinh tế - quản trị lượng hóa chi phí, lợi ích; khối khoa học xã hội và nhân văn phân tích hành vi, công bằng, bản sắc và đồng thuận; khối quân đội đóng góp tri thức chuyên ngành thuộc phạm vi được phép. Sản phẩm cuối phải là báo cáo chính sách, bộ tiêu chí, bản đồ rủi ro hoặc phương án thử nghiệm có địa chỉ sử dụng, thay vì dừng ở kiến nghị khái quát.

4.2. Đồng kiến tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo cho tăng trưởng hai con số

Tăng trưởng 11 - 12%/năm không thể chỉ dựa vào tăng vốn đầu tư; về dài hạn phải dựa vào năng suất, công nghệ, kỹ năng và khả năng hình thành ngành, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Mạng lưới đại học - học viện có thể xây dựng bản đồ kỹ năng cho từng cực phát triển: khoa học biển, nuôi trồng và chế biến sâu tại chuỗi kinh tế biển; logistics và quản trị chuỗi cung ứng tại Vân Phong - Cam Ranh; du lịch xanh, công nghiệp văn hóa và truyền thông số tại Nha Trang; năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh và quản trị khan hiếm nước ở phía nam tỉnh; công nghệ thông tin, an toàn số và tự động hóa trên toàn địa bàn.

Phân công đó không mang tính hành chính, mà là định hướng để từng trường tham gia theo thế mạnh và cùng thiết kế chương trình liên ngành, chứng chỉ ngắn hạn, đào tạo lại cho doanh nghiệp và chính quyền. Trường Đại học Nha Trang có thể giữ vai trò nòng cốt ở cụm kinh tế biển - thủy sản; Trường Đại học Khánh Hòa ở cụm văn hóa - du lịch - giáo dục - truyền thông; Trường Đại học Thái Bình Dương và các phân hiệu ở cụm kinh doanh - logistics - công nghệ ứng dụng; Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận ở cụm nông nghiệp xanh - tài nguyên - môi trường. Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Thông tin và Trường Sĩ quan Không quân đóng góp kinh nghiệm đào tạo kỷ luật, công nghệ chuyên ngành, mô phỏng và tổ chức trong môi trường yêu cầu độ tin cậy cao. Sinh viên, học viên và giảng viên trẻ cần được xem là lực lượng trực tiếp thực hiện dự án, không chỉ là đối tượng thụ hưởng.

4.3. Đồng kiến tạo kinh tế xanh, kinh tế biển và khả năng thích ứng

Phát triển xanh ở Khánh Hòa phải gắn bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển, đảo, vịnh, rừng, hành lang xanh, đa dạng sinh học với chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng. Quyết định số 757/QĐ-TTg yêu cầu xác định khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng đệm và khu vực có nguy cơ ô nhiễm, rủi ro cao; tích hợp giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai cực đoan [7, tr.7]. Trường Đại học Nha Trang và Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận có thể phối hợp cùng các viện nghiên cứu, địa phương và doanh nghiệp xây dựng chuỗi thủy sản tuần hoàn, mô hình nông nghiệp tiết kiệm nước, quan trắc môi trường, truy xuất nguồn gốc và sinh kế xanh. Các trường về kinh tế, du lịch, văn hóa và truyền thông giúp chuyển giải pháp kỹ thuật thành hành vi thị trường, sản phẩm du lịch có trách nhiệm và sự tham gia của cộng đồng.

Học viện Hải quân và các nhà trường quân đội có thể tham gia những nhiệm vụ phù hợp như giáo dục ý thức biển đảo, chia sẻ tri thức công khai về an toàn trên biển, tìm kiếm cứu nạn, tổ chức ứng phó tình huống và xây dựng văn hóa trách nhiệm với chủ quyền, môi trường biển. Sự kết hợp giữa tri thức dân sự và quân sự giúp khắc phục cách tiếp cận tách rời kinh tế biển với sinh thái và quốc phòng, an ninh; qua đó góp phần tạo nền tảng an toàn cho tăng trưởng dài hạn.

4.4. Đồng kiến tạo hệ sinh thái số an toàn, tin cậy

Mục tiêu kinh tế số chiếm 35% GRDP đòi hỏi Khánh Hòa không chỉ số hóa thủ tục, mà phải hình thành năng lực dữ liệu và đổi mới mô hình hoạt động. Các trường có thể tham gia xây dựng bộ dữ liệu và chỉ số về chất lượng sống, năng lực số cộng đồng, sinh kế, hành vi du lịch, môi trường, mức độ hài lòng với dịch vụ công và khả năng tiếp cận cơ hội phát triển. Trường Sĩ quan Thông tin có thể đóng góp chuyên môn phù hợp về hạ tầng số, đào tạo kỹ năng, an toàn thông tin và mô hình nhà trường thông minh; các trường dân sự phát triển ứng dụng, phân tích dữ liệu, quản trị, truyền thông và đạo đức số. Học viện Hải quân và Trường Sĩ quan Không quân có thể chia sẻ kinh nghiệm công khai về mô phỏng, huấn luyện và quản trị hệ thống có độ tin cậy cao.

Điều kiện tiên quyết là phân tầng dữ liệu. Dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; dữ liệu chia sẻ có điều kiện được quản lý bằng thỏa thuận, phân quyền và nhật ký truy cập; dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, bí mật quân sự hoặc dữ liệu cá nhân nhạy cảm phải được bảo vệ theo pháp luật và quy định chuyên ngành. Ranh giới này giúp thúc đẩy hợp tác mà không đánh đổi an ninh, an toàn và niềm tin xã hội.

4.5. Đồng kiến tạo văn hóa, gắn kết xã hội và thế trận lòng dân

Khánh Hòa sau sắp xếp có không gian văn hóa phong phú hơn, gồm văn hóa biển, văn hóa Trường Sa, văn hóa Chăm, văn hóa Raglai, di sản đô thị và cộng đồng dân cư đa dạng. Trường Đại học Khánh Hòa cùng các cơ sở có ngành xã hội, nhân văn, du lịch, nghệ thuật, ngoại ngữ và truyền thông có thể nghiên cứu, số hóa, giáo dục và chuyển hóa bản sắc thành nguồn lực phát triển. Học viện Hải quân và các trường sĩ quan góp phần bồi dưỡng ý thức quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo, kỷ luật, trách nhiệm cộng đồng và khả năng ứng phó khẩn cấp. Qua các chương trình thanh niên tình nguyện số, giáo dục di sản, bản đồ văn hóa số, truyền thông du lịch có trách nhiệm và phổ cập kỹ năng số, tri thức nhà trường được chuyển thành năng lực xã hội và củng cố đồng thuận trong quá trình phát triển nhanh.

Vai trò đồng kiến tạo của các trường Đại học và Học viện trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong phát triển xanh, số và bền vững hiện nay - Ảnh 3.

5. Mô hình và giải pháp phát huy vai trò đồng kiến tạo 

5.1. Mô hình Mạng lưới đại học - học viện đồng kiến tạo phát triển Khánh Hòa

Có thể đề xuất mô hình "Mạng lưới đại học - học viện đồng kiến tạo phát triển Khánh Hòa". Mạng lưới vận hành trên ba tầng. Tầng điều phối là cơ chế phối hợp giữa tỉnh, cơ quan quản lý các trường, doanh nghiệp và đại diện cộng đồng; đối với cơ sở quân đội, nội dung phối hợp thực hiện theo chức năng, thẩm quyền và quy định của Bộ Quốc phòng. Tầng chuyên môn gồm bốn cụm nhiệm vụ: biển - xanh - thích ứng; số - công nghệ - đô thị thông minh; kinh tế - logistics - đổi mới sáng tạo; văn hóa - xã hội - quốc phòng, an ninh. Tầng thực thi là các nhóm dự án liên trường tại địa bàn, doanh nghiệp hoặc cộng đồng cụ thể.

Chu trình vận hành gồm bảy khâu liên hoàn: xác định bài toán ưu tiên - đặt hàng và lựa chọn nhóm thực hiện - tạo lập dữ liệu - đồng thiết kế giải pháp - đào tạo và thử nghiệm - đánh giá độc lập - chuyển giao, nhân rộng hoặc điều chỉnh chính sách. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ trường nòng cốt, đơn vị phối hợp, sản phẩm, người sử dụng, nguồn lực, thời hạn và chỉ số tác động. Nhờ đó, vai trò đồng kiến tạo được thể hiện bằng kết quả đối với năng suất, chất lượng dịch vụ, môi trường, xã hội và an toàn, chứ không chỉ bằng số lượng hoạt động.

5.2. Một số giải pháp chủ yếu

Thứ nhất, thể chế hóa cơ chế phối hợp và đặt hàng. Tỉnh cần ban hành chương trình hợp tác trung hạn với các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn, thiết lập đầu mối điều phối, hội đồng tư vấn liên ngành và danh mục bài toán ưu tiên hằng năm. Với học viện, nhà trường quân đội, cần có quy chế phối hợp riêng, xác định rõ nội dung công khai có thể hợp tác, thẩm quyền phê duyệt, trách nhiệm bảo mật và cơ chế sử dụng kết quả.

Thứ hai, xây dựng bản đồ năng lực và danh mục nhiệm vụ theo ba đích đến. Bản đồ cần công khai năng lực phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, chuyên gia, chương trình đào tạo và khả năng chuyển giao của từng cơ sở. Danh mục nhiệm vụ phải gắn trực tiếp với tăng năng suất để duy trì tăng trưởng hai con số; nâng chuẩn quản trị, hạ tầng và dịch vụ để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; giảm phát thải, bảo vệ sinh thái, tăng khả năng chống chịu và bao trùm xã hội.

Thứ ba, phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung có phân tầng. Tỉnh và các trường cần thống nhất chuẩn dữ liệu, danh mục dữ liệu mở, cơ chế tiếp cận dữ liệu chia sẻ có điều kiện, quy trình đạo đức nghiên cứu và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Dữ liệu quốc phòng, an ninh và dữ liệu hạn chế tiếp cận không đưa vào nền tảng dùng chung; việc khai thác chỉ thực hiện theo cơ chế chuyên ngành. Đây là điều kiện để nghiên cứu có bằng chứng nhưng vẫn bảo đảm an toàn.

Thứ tư, đổi mới đào tạo theo bài toán phát triển của tỉnh. Các trường cần đồng thiết kế học phần, chứng chỉ vi mô và chương trình đào tạo lại về kinh tế biển, logistics, du lịch bền vững, nông nghiệp thông minh, năng lượng tái tạo, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn số, quản trị đô thị, văn hóa và truyền thông. Dự án học tập của sinh viên, học viên nên gắn với bài toán thật của địa phương và doanh nghiệp; kết quả tốt được ươm tạo, chuyển giao hoặc sử dụng trong hoạt động cộng đồng.

Thứ năm, thiết lập các Living Lab liên trường theo địa bàn. Mỗi phòng thí nghiệm sống cần có cơ quan đặt hàng, nhóm trường nòng cốt, doanh nghiệp đồng hành và cộng đồng tham gia từ khâu xác định vấn đề. Thử nghiệm phải có phạm vi, thời hạn, ngân sách, tiêu chuẩn an toàn, chỉ số nền và cơ chế dừng hoặc nhân rộng. Cách thiết kế này giúp kiểm soát rủi ro và tạo bằng chứng trước khi đầu tư quy mô lớn.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ và chuyển giao. Kinh phí cần kết hợp ngân sách nhiệm vụ khoa học, đặt hàng dịch vụ công, nguồn doanh nghiệp và hợp tác quốc tế; phân bổ theo mốc sản phẩm và tác động. Quyền sở hữu dữ liệu, công nghệ, học liệu và lợi ích từ thương mại hóa phải được thỏa thuận từ đầu, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng.

Thứ bảy, đánh giá bằng kết quả và công khai trách nhiệm giải trình. Diễn đàn thường niên "Đại học - học viện đồng kiến tạo phát triển Khánh Hòa" cần gắn với báo cáo kết quả, bảng theo dõi chỉ số và danh mục sản phẩm đã được ứng dụng. Đánh giá phải phân biệt đầu ra học thuật với tác động phát triển; ghi nhận cả đóng góp của giảng viên trẻ, sinh viên, học viên và đối tác cộng đồng. Cơ chế phản hồi giúp loại bỏ nhiệm vụ hình thức và tập trung nguồn lực cho mô hình có hiệu quả.

6. Kết luận

Khánh Hòa có lợi thế đặc biệt khi trên cùng địa bàn hiện diện các trường đại học dân sự, các phân hiệu/cơ sở đào tạo và hệ thống học viện, nhà trường quân đội với năng lực bổ trợ. Khối dân sự đóng góp thế mạnh về khoa học biển - thủy sản, nông nghiệp - môi trường, công nghệ, kinh tế - logistics, du lịch, văn hóa, giáo dục và truyền thông. Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Thông tin và Trường Sĩ quan Không quân bổ sung tri thức về biển đảo, chuyển đổi số, an toàn thông tin, hàng không, mô phỏng, cứu hộ và giáo dục trách nhiệm; sự tham gia phải đúng chức năng, thẩm quyền và yêu cầu bảo mật.

Điều quyết định là chuyển từ hợp tác theo sự kiện sang hợp tác theo nhiệm vụ; từ liệt kê tiềm năng sang phân công theo năng lực; từ đánh giá bằng số hoạt động sang đánh giá bằng tác động. Khi tri thức đi vào chính sách, đào tạo gắn với chuỗi giá trị mới, dữ liệu trở thành nguồn lực quản trị và đổi mới sáng tạo có địa chỉ ứng dụng, mạng lưới đại học - học viện sẽ trở thành một động lực giúp Khánh Hòa duy trì tăng trưởng hai con số, tiến tới thành phố trực thuộc Trung ương và phát triển xanh, số, bền vững.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28-01-2022 về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.

[2] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

[3] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[4] Carayannis, E. G., Barth, T. D. và Campbell, D. F. J. (2012), "The Quintuple Helix innovation model: global warming as a challenge and driver for innovation", Journal of Innovation and Entrepreneurship, 1, Article 2.

[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[6] Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12-6-2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Hà Nội.

[7] Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 757/QĐ-TTg ngày 28-4-2026 phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, Hà Nội.

[8] Tỉnh ủy Khánh Hòa (2025), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Khánh Hòa.

[9] Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa (2026), "Tiềm năng, thế mạnh - Viện nghiên cứu và giáo dục", Cổng thông tin xúc tiến đầu tư tỉnh Khánh Hòa.

[10] Trường Đại học Nha Trang (2026), "Giới thiệu chung", Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Nha Trang.

[11] Trường Đại học Khánh Hòa (2025), "Khoa Khoa học xã hội và nhân văn", Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Khánh Hòa.

[12] Trường Đại học Thái Bình Dương (2026), "Chương trình đào tạo", Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Thái Bình Dương.

[13] Phân hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng tại tỉnh Khánh Hòa (2026), "Giới thiệu và chương trình đào tạo", Cổng thông tin điện tử Phân hiệu Khánh Hòa.

[14] Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận (2026), "Giới thiệu Phân hiệu", Cổng thông tin điện tử Phân hiệu.

[15] Học viện Hải quân (2025), "Chuyển đổi số - bước đột phá xây dựng nhà trường thông minh", Cổng thông tin điện tử Học viện Hải quân.

[16] Trường Sĩ quan Thông tin (2026), "Thông tin tuyển sinh năm 2026", Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Thông tin liên lạc.

[17] Quân đội nhân dân (2026), "Huấn luyện phi công theo hướng hiện đại, sát thực tiễn chiến đấu", ngày 24-02-2026.

TS Nguyễn Hữu Hồi - Trường Đại học Thông tin Liên lạc