Bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, 10/03/2026 - 10:03

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Đây cũng là một nội dung mà các thế lực thù địch thường xuyên chống phá, xuyên tạc. Do đó, cùng với việc đẩy mạnh học tập, nghiên cứu, chúng ta cần phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người lên một tầm cao mới, phù hợp với sự phát triển của thời đại, đồng thời, tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ những giá trị chân chính của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người được xuất phát từ những nguồn gốc lịch sử truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam về lòng nhân ái và dân chủ kết hợp với tinh hoa của nhân loại, đặc biệt là sự vận dụng và phát triển một cách có sáng tạo tư tưởng của Các Mác, Ph Ănghen và V.I. Lênin về sự nghiệp giải phóng triệt để đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và mọi sự tha hóa đối với con người; thực tiễn đấu tranh đòi quyền con người của các cuộc cách mạng trên thế giới và quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta. Từ đó, xây dựng nên một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về quyền con người trong tư tưởng của Người, có giá trị và tầm ảnh hưởng to lớn đến quá trình hình thành và phát triển chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề nhân quyền. Những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về quyền con người, đó là:

Một là, quyền con người phải gắn liền với quyền dân tộc, với độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.

Từ đặc điểm của dân tộc đang bị mất nước, bị bóc lột nặng nề dưới chế độ đế quốc thực dân và bọn địa chủ phong kiến tay sai, mọi quyền sống của con người cũng như quyền dân tộc đều không có. Vì vậy, để giải quyết vấn đề nhân quyền hay còn gọi là quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết thông qua cuộc cách mạng để giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam. Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp. Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Do đó, cần phải đấu tranh xóa bỏ những mâu thuẫn đó, mà trong đó giải quyết mâu thuẫn chủ yếu, giành lại độc lập cho dân tộc là yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Theo Người, có độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia thì mới có có sở để hiện thực hóa các quyền con người ở Việt Nam. Điều này đã thể hiện sự tiến bộ, vượt trước thời đại về quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vì đến năm 1966, "quyền dân tộc tự quyết" mới được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tại Điều 1 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Không dừng lại ở đó, Hồ Chí Minh còn đòi quyền cho tất cả các dân tộc đang bị áp bức bóc lột trên thế giới. Đây là sự phát triển, khái quát cao đem lại những nội dung mới về nhân quyền - quyền con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thời đại mới. Điều này đã được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam do Người trực tiếp soạn thảo. Người đã trích dẫn bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của của Cách mạng Pháp năm 1791 và Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776, để khẳng định: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" [1]. Như vậy, từ những quyền cơ bản của con người được mở rộng thành quyền dân tộc, quyền con người trừu tượng thành quyền của người dân được sống trong độc lập, tự do, từ quyền dân tộc độc lập, được phát triển thành quyền độc lập của các dân tộc.

Hai là, quyền con người không chỉ giới hạn ở các quyền tự nhiên vốn có mà được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, quyền con người không chỉ cần dừng lại ở quyền được sống, mà còn có quyền sung sướng và quyền tự do. Quyền sung sướng không chỉ biểu hiện ở ăn, mặc, ở, đi lại để tồn tại mà còn vươn lên trên cái tồn tại để hoàn thiện và phát triển bản thân. Đó chính là quyền học tập, sáng tạo, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền dân sự, quyền về chính trị, kinh tế - văn hóa xã hội, cũng như quyền của các nhóm người đặc biệt trong xã hội như: quyền các dân tộc thiểu số, quyền phụ nữ, quyền của trẻ em, quyền của nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để họ hòa nhập với cộng đồng xã hội… Như vậy, có thể thấy nội dung quyền con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh được phát triển rất phong phú cả về bề rộng và chiều sâu, tạo ra một hệ thống về quyền con người theo quan điểm khoa học và cách mạng.

Ba là, quyền con người phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và được bảo đảm, bảo vệ bằng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Theo Người, để thực hiện dược quyền con người thì phải đảm bảo nó bằng một cơ chế chặt chẽ, Người khẳng định: "sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật", "dân chủ đúng đắn cũng ở nơi pháp luật" [2]. Muốn đảm bảo cho cơ chế đó được vận hành thì cần có một Hiến pháp dân chủ và Nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Trong 6 vấn đề cấp bách tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đã đề xuất phải ban hành ngay "một Hiến pháp dân chủ" và phải "tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…" [3]. để bầu ra Quốc hội, bởi Quốc hội là cơ quan có quyền lực tối cao của Nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ thực sự của toàn dân và ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ. Thông qua đó, bản Hiến pháp của nước Việt Nam mới đã được ban hành vào năm 1946. Bên cạnh đó, với quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường bảo đảm quyền con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều đạo luật để đảm bảo thực thi quyền con người ở nước ta, như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (năm 1959), Luật Tổ chức Quốc hội (năm 1960), Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ (năm 1960), Luật Tổ chức Toà án nhân dân (năm 1960), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (năm 1960)... và nhiều đạo luật khác điều chỉnh vấn đề quyền con người, như: Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Luật Quy định quyền lập hội (năm 1957); Luật Quy định quyền tự do hội họp (1957); Luật Công đoàn (năm 1957); Luật về Chế độ báo chí (năm 1957)…

Bên cạnh việc xây dựng Hiến pháp và ban hành Luật, Người còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước là phải tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người. Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước phải có nghĩa vụ "đảm bảo các quyền tự do dân chủ", bởi: "nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" [4] và nhấn mạnh: "Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" [5]...

Bốn là, quyền của mỗi người phải đặt trong mối quan hệ với quyền, lợi ích của cộng đồng, tập thể; quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân.

Quyền con người không chỉ là quyền và tự do của cá nhân, mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước và của công dân. Bởi, mỗi con người không thể tồn tại một mình mà luôn tương tác với những người khác trong xã hội. Việc thực hiện quyền của mỗi người phải được đặt trên cơ sở tôn trọng quyền của những cá nhân khác, của cộng đồng xã hội; tự do của mỗi người phải đặt trong mối tương quan với tự do của người khác. Nếu quyền của cá nhân là tuyệt đối thì xã hội sẽ không tồn tại. Do đó, quyền con người không tách rời nghĩa vụ công dân; Người nhấn mạnh: "Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân; giữ đúng đạo đức công dân" [6]. Quan điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn bởi trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 cũng khẳng định: "Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng", "khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác" [7].

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn đang tồn tại quan điểm tuyệt đối hóa quyền mà xem nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quyền, lợi ích của cá nhân với lợi ích của nhà nước và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể" [8].

2. Nội dung bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thực tế đã và đang, đồng thời tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, góp phần hiện thực hóa mong ước của Người về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Nhưng quá trình đó, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng bảo vệ và tiếp tục phát triển tư tưởng của Người trong tình hình mới. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là một nội dung mà chúng tập trung chống phá. Bởi vậy, đi đôi với phát triển, cần phải tích cực bảo vệ tư tưởng của Người với những cách thức mạnh mẽ, quyết liệt và sáng tạo hơn, phát huy tối đa những thế mạnh sẵn có.

Trong thời gian tới, việc bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người cần được tiến hành toàn diện ở tất cả các nội dung cấu thành, ở cả phương diện bảo vệ, khẳng định và vận dụng, phát triển. Trong đó, tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Một là, phải làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người trong tình hình hiện nay. Điều đó có nghĩa, cần phải tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người một cách có hệ thống, và trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu đó, khái quát và xây dựng một diện mạo hoàn chỉnh về tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Đồng thời, cần tiếp tục phân tích, đánh giá, khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đối với trước đây cũng như hiện nay và tương lai.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu vận dụng, bổ sung, phát triển những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền con người gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể. Trong đó, cần phải nhận thức rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ đúng trong thời điểm mà nó ra đời, mà nó còn đúng trong giai đoạn hiện nay nhưng cần bổ sung thêm những quan điểm mà trước đây Người chưa có điều kiện để đi sâu, làm rõ.

Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển không ngừng, sự biến đổi đó, đặt ra những vấn đề mới mà Người chưa đề cập, hoặc chỉ đề cập ở góc độ phương pháp và phương pháp luận thì cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hóa hơn nữa. Do đó, cần phải tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, làm giàu cho nền tảng tư tưởng của Đảng, để di sản tư tưởng của Người mãi mãi tỏa sáng trong thực tiễn và đúng với tinh thần bản chất học tập, vận dụng lý luận mà Người thường nhắc nhở chúng ta.

Ba là, cần tăng cường đi sâu hơn nữa việc phân tích và làm rõ những quan điểm cụ thể trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ trong giảng dạy mà cả trong thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bởi, trong di sản tư tưởng đồ sộ của Hồ Chí Minh về quyền con người, có rất nhiều quan điểm cụ thể, do đó cần hiểu rõ quan điểm ấy được trình bày trong điều kiện hoàn cảnh nào, với hàm ý gì và vai trò của quan điểm đó trong lịch sử, cũng như hiện nay và để vận dụng trong học tập, công tác và ứng xử hiện nay cho phù hợp. Qua đó, cũng giúp mỗi người hiểu sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, đây là cơ sở vững chắc để đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Theo Hồ Chí Minh, nắm lý luận không chỉ đơn thuần ở câu chữ mà là ở tinh thần, bản chất, nên điều quan trọng là phải tìm ra cái cốt lõi, cái điều đích thực mà tư tưởng của Người chuyển tải. Do đó, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người phải luôn luôn bám sát với thực tiễn mà nó xuất hiện, cũng như đặt nó trong một chỉnh thể, trong hệ thống tư tưởng và cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Tránh những suy nghĩ "hiện đại hóa", "thêm thắt", "gán ghép" một hay nhiều quan điểm cụ thể nào đó. Nhưng cũng không vì thế mà không thấy được tinh thần, phương pháp luận toát lên trong đó. Điều này đòi hỏi sự nghiên cứu công phu và nghiêm túc với tinh thần thực sự khoa học.

3. Biện pháp bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

Để bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong giai đoạn hiện nay cần tập trung vào một số biện pháp sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, sưu tập tư liệu về Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người nói riêng. Đây là điều cần thiết để khẳng định và làm rõ thêm di sản của Người để lại, cũng như là căn cứ để bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc thù địch. Hiện nay, nguồn tư liệu về Hồ Chí Minh về quyền con người chúng ta có được là rất phong phú, đa dạng, nhưng chưa phải là đầy đủ. Có những khoảng thời gian trong quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh chúng ta rất thiếu tư liệu. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh cần nghiên cứu, thẩm định để bổ sung. Nếu chúng ta càng có nhiều tư liệu về tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thì việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch càng có hiệu quả cao.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh về quyền con người. Hiện nay, số lượng các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là vô cùng lớn với các cấp độ khác nhau. Trong đó, nhiều công trình có giá trị lý luận, tổng kết thực tiễn cao. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người vẫn còn có những hạn chế nhất định như nặng về số lượng, có lúc, có nơi chưa thực sự chú trọng vào chiều sâu. Điều này cũng làm hạn chế việc đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu xuyên tạc, sai trái về tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Do đó, cần phải đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có chiều sâu với tư cách là một hệ thống tri thức khoa học, tránh tư tưởng chủ quan, gán ghép khiên cưỡng. Để từ đó có những công trình có giá trị cao, góp phần phát triển lý luận và tham mưu về lý luận để Đảng và Nhà nước ta đưa ra những chủ trương, biện pháp vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong bảo vệ, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Hiện nay, lực lượng tham gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh về quyền con người rất đông đảo, thuộc nhiều đối tượng ở các ngành và chuyên ngành khoa học khác nhau. Tuy nhiên, để có một chiến lược lâu dài, bài bản về việc bảo vệ, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, rất cần thiết phải có sự kế thừa giữa các thế hệ nghiên cứu. Cần xây dựng những nhà nghiên cứu thật sự tâm huyết, có tài, có tâm, có tầm trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Đội ngũ chuyên gia cần đi sâu, nghiên cứu một cách toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, đặc biệt là cần làm rõ những nội dung chưa rõ, làm sâu những nội dung chưa sâu, chỉ rõ những vấn đề có tính lịch sử và những vấn đề có tính phương pháp và phương pháp luận. Vạch rõ cách thức, biện pháp trong vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Kịp thời tham mưu, đề xuất cho Đảng và các cơ quan chức năng xây dựng chiến lược đấu tranh với những hình thức, biện pháp có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước cũng cần có những cơ chế, chính sách hợp lý, đồng thời tạo môi trường làm việc thuận lợi nhất để họ nghiên cứu phát triển tư tưởng của Người, cũng như đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Thứ tư, đưa tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người thấm sâu vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và đời sống quần chúng nhân dân.

Muốn thực hiện được điều này cần phải tăng cường công tác giáo dục, quán triệt, nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về vị trí, vai trò của quyền con người trong từng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội. Từ đó, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, hướng đến mục tiêu phát triển vì con người.

Bên cạnh đó, muốn bảo vệ, bảo đảm tốt được quyền lợi của người dân thì nhiệm vụ tối quan trọng là nâng cao nhận thức người dân. Người dân phải hiểu biết được quyền của mình và muốn biết được quyền đó thì phải thông qua giáo dục. Giáo dục để nâng cao nhận thức của xã hội, của người dân về quyền khi người dân, khi cá nhân công dân biết được mình có những quyền gì thì có thể tự bảo vệ được quyền của mình. Thông qua các cơ chế khác nhau, từ chuyện khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước. Biết quyền của thì tự bảo vệ và phải tôn trọng quyền và tự do của người khác và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Từ đó, sẽ làm cho những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người ngày càng thấm sâu vào mọi hoạt động, mọi mối quan hệ của cuộc sống, các đối tượng dân cư, không chỉ tạo ra động lực tinh thần mà còn là sức mạnh vật chất để cải tạo xã hội.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền con người.

Thứ năm, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sử dụng ngày càng phổ biến và sâu rộng cách tiếp cận dựa trên quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương và chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong đó, cần tập trung vào các nội dung về sức mạnh của Nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân… Bảo đảm nguyên tắc quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ; đề cao vai trò chủ thể hưởng thụ quyền là nhân dân; bảo đảm và thúc đẩy quyền con người một cách thực tế trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương trên cơ sở từng bước bảo đảm quyền con người một cách bình đẳng. Đồng thời, thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân đã được đề ra trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013 bằng cách nghiên cứu, xây dựng và ban hành các bộ luật cụ thể như: Luật về Hội, Luật Biểu tình, Luật Dân chủ ở cơ sở... nhằm tạo cơ sở pháp lý để người dân thực hiện các quyền đã được Hiến pháp ghi nhận.

Như vậy, bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài, là một đòi hỏi của cuộc sống và sự phát triển đất nước cũng như sự nghiệp cách mạng. Đây là một quá trình cần phải được nghiên cứu công phu, kế hoạch bài bản và tiến hành nghiêm túc, có chất lượng, thiết thực với những cách thức đa dạng, linh hoạt nhạy bén. Đồng thời điều đó đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thượng tá, ThS Nguyễn Thành Nam

Chủ nhiệm bộ môn, Khoa Binh chủng, Học viện Chính trị


Tài liệu tham khảo:

[1]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.285.

[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 5, tr.299, 393.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr.7

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr.64.

[5]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4. tr.175.

[6]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 9, tr. 58.

[7]. Điều 29 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948.

[8]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 11, tr.610.