Chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy của giảng viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Thứ hai, 05/10/2026 - 10:00

Tóm tắt: Chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy là yêu cầu trực tiếp đối với đội ngũ giảng viên ở Trường Sĩ quan Chính trị trong bối cảnh đổi mới giáo dục, đào tạo và xây dựng môi trường giáo dục số. Bài viết phân tích biểu hiện chủ động chuyển đổi số của giảng viên trên ba phương diện nhận thức, thái độ và hành vi; đồng thời làm rõ một số yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quá trình này.

Kết quả cho thấy nhận thức và thái độ đã có chuyển biến tích cực, song hành vi chuyển đổi số còn chưa đồng đều, nhất là ở các nội dung đòi hỏi chiều sâu sư phạm và năng lực công nghệ. Từ đó, bài viết xác định một số vấn đề cần tập trung giải quyết nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức, thái độ và hành vi chuyển đổi số trong giảng dạy.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số trở thành xu thế tác động sâu sắc đến giáo dục và đào tạo. Đối với Trường Sĩ quan Chính trị, chuyển đổi số trong giảng dạy không chỉ là việc đưa công nghệ vào bài giảng mà gắn trực tiếp với yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, phát triển năng lực người học và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ chính trị. Vì vậy, giảng viên vừa là chủ thể sử dụng công nghệ, vừa là lực lượng trực tiếp tổ chức, dẫn dắt và tạo ra sự thay đổi trong hoạt động dạy học trên môi trường số. Thực tiễn cho thấy quá trình chuyển đổi số trong giảng dạy ở Nhà trường đã có những chuyển biến, nhưng mức độ chủ động giữa các giảng viên và giữa các nội dung hoạt động còn khác nhau. Phân tích đúng thực trạng, nhận diện những mặt mạnh, hạn chế và các yếu tố tác động là cơ sở quan trọng để xác định hướng nâng cao tính chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy của giảng viên hiện nay.

Chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy của giảng viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra - Ảnh 1.

Hoạt động thông qua bài giảng ứng dụng công nghệ AI của Khoa Tâm lý học quân sự/ Trường Sĩ quan Chính trị.

2. Biểu hiện chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy của giảng viên ở Trường Sĩ quan Chính trị

Chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy được xem xét trên ba phương diện cơ bản là nhận thức, thái độ và hành vi. Ba phương diện này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại: nhận thức định hướng thái độ; thái độ tạo động lực cho hành động; hành vi là sự biểu hiện trực tiếp của nhận thức và thái độ trong thực tiễn nghề nghiệp.

Thứ nhất, về nhận thức. Phần lớn giảng viên đã nhận thức được vai trò, yêu cầu và ý nghĩa của chuyển đổi số đối với đổi mới hoạt động giảng dạy. Giảng viên từng bước phân biệt chuyển đổi số với việc sử dụng công nghệ thông tin đơn lẻ, nhận thức rõ hơn yêu cầu khai thác dữ liệu số, học liệu số, nền tảng số để thay đổi cách thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học. Nhận thức về trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và bí mật quân sự được chú trọng, phù hợp với đặc thù môi trường sư phạm quân sự.

Tuy nhiên, nhận thức chưa thật đồng đều. Ở một bộ phận giảng viên, chuyển đổi số vẫn có lúc được nhìn nhận chủ yếu ở phương diện công cụ: xây dựng bài trình chiếu, số hóa giáo án, sử dụng một số phần mềm hoặc đưa tài liệu lên môi trường số. Cách hiểu này chưa phản ánh đầy đủ bản chất chuyển đổi số là quá trình đổi mới toàn diện hoạt động giảng dạy trên nền tảng công nghệ và dữ liệu số, bao gồm thiết kế nội dung, tổ chức tương tác, kiểm tra - đánh giá, khai thác dữ liệu học tập và hỗ trợ phát triển năng lực tự học của học viên.

Thứ hai, về thái độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn giảng viên có sự đồng thuận với yêu cầu đổi mới, có tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp, sẵn sàng học hỏi và có thái độ nghiêm túc đối với các quy định về bảo mật. Đây là tiền đề tâm lý quan trọng để giảng viên tiếp nhận công nghệ mới, tự bồi dưỡng và từng bước điều chỉnh phương pháp giảng dạy.

Dù vậy, sự sẵn sàng đầu tư thời gian, kiên trì thử nghiệm và tự giác đổi mới còn chưa đồng đều. Một bộ phận giảng viên còn xem chuyển đổi số là yêu cầu hành chính, chỉ tiêu thi đua hoặc nhiệm vụ phục vụ hội thi, kiểm tra; khi động cơ chủ yếu đến từ tác động bên ngoài, thái độ thực hiện dễ thiếu tính bền vững. Khối lượng công việc chuyên môn, nghiên cứu khoa học và nhiệm vụ kiêm nhiệm lớn cũng làm giảm khả năng đầu tư thường xuyên cho việc thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm số.

Thứ ba, về hành vi. Đây là phương diện phản ánh trực tiếp nhất mức độ chủ động chuyển đổi số. Hành vi được biểu hiện qua tự học, tự bồi dưỡng năng lực số; xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ; thiết kế, cập nhật bài giảng số; tìm kiếm và kiểm chứng học liệu; tổ chức tương tác; kiểm tra - đánh giá; khai thác dữ liệu học tập; hướng dẫn học viên sử dụng công nghệ; xử lý khó khăn kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy

Chủ động chuyển đổi số của giảng viên chịu tác động tổng hợp của các yếu tố chủ quan và khách quan. Trong đó, các yếu tố chủ quan giữ vai trò trực tiếp đối với khả năng chuyển hóa yêu cầu chuyển đổi số thành động cơ, thái độ và hành vi nghề nghiệp của giảng viên.

Bên cạnh năng lực số, hiểu biết về chuyển đổi số, động cơ nghề nghiệp, tâm thế đổi mới, kinh nghiệm giảng dạy và năng lực tự bồi dưỡng cũng tác động rõ rệt. Khi giảng viên hiểu đúng bản chất chuyển đổi số, có động cơ nghề nghiệp bền vững, sẵn sàng thử nghiệm và có khả năng tự học, họ có điều kiện chủ động hơn trong lựa chọn công nghệ, tổ chức hoạt động dạy học và điều chỉnh phương pháp. Ngược lại, tâm lý sợ sai, e ngại công nghệ hoặc phụ thuộc vào lực lượng kỹ thuật có thể làm giảm tính tự giác và khả năng đổi mới.

Các yếu tố khách quan gồm cơ chế, chính sách; hạ tầng công nghệ; học liệu số; môi trường sư phạm quân sự; sự lãnh đạo, hỗ trợ và văn hóa đổi mới. Hạ tầng chưa đồng bộ, mạng hoặc thiết bị thiếu ổn định, phần mềm không tương thích và nguồn học liệu chưa đáp ứng có thể làm giảm hứng thú và niềm tin của giảng viên. Công tác bồi dưỡng nếu thiên về giới thiệu phần mềm, thao tác kỹ thuật mà chưa gắn với môn học và nhiệm vụ sư phạm cụ thể cũng dễ dẫn đến quá tải công cụ nhưng thiếu khả năng vận dụng.

Đặc biệt, yêu cầu cao về an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và bí mật quân sự vừa là nguyên tắc bắt buộc, vừa có thể tạo tâm lý thận trọng nếu chưa có hướng dẫn rõ về nền tảng được phép sử dụng, phạm vi học liệu được số hóa và phương thức lưu trữ an toàn. Vì vậy, nâng cao tính chủ động phải đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa hiện đại hóa với an toàn, sáng tạo với kỷ luật, linh hoạt với chính quy.

4. Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng

Một là, cần tiếp tục thống nhất nhận thức về bản chất chuyển đổi số trong giảng dạy. Trọng tâm không phải là tăng số lượng công cụ được sử dụng mà là tạo ra sự thay đổi có mục tiêu trong cách thiết kế, tổ chức, tương tác, kiểm tra - đánh giá và hỗ trợ người học. Nếu nhận thức còn thiên về công cụ, hành vi chuyển đổi số dễ rơi vào hình thức và khó tạo giá trị sư phạm mới.

Hai là, cần thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức, thái độ và hành vi. Thực trạng cho thấy nhận thức và thái độ đã có chuyển biến tích cực nhưng hành vi vẫn là thành tố có mức biểu hiện thấp nhất. Do đó, việc nâng cao tính chủ động phải hướng mạnh vào tổ chức hoạt động thực tiễn để giảng viên tự thực hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh và hoàn thiện sản phẩm chuyển đổi số gắn với nhiệm vụ giảng dạy cụ thể.

Ba là, phát triển năng lực số phải gắn với năng lực sư phạm. Năng lực số được các nhóm khách thể đánh giá là yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nổi bật. Tuy nhiên, biết sử dụng công cụ chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số hiệu quả. Giảng viên cần có khả năng lựa chọn công nghệ theo mục tiêu bài học, tổ chức tương tác, thiết kế nhiệm vụ học tập, kiểm tra - đánh giá và khai thác dữ liệu để điều chỉnh hoạt động dạy học.

Bốn là, cần tạo điều kiện tổ chức và môi trường để duy trì động cơ đổi mới bền vững. Cơ chế hỗ trợ, hạ tầng, học liệu, sinh hoạt chuyên môn và văn hóa khuyến khích sáng tạo có vai trò quan trọng trong việc giảm tâm lý e ngại, tăng sự tự tin và duy trì hành vi chủ động. Đồng thời, mọi hoạt động phải đặt trong khuôn khổ chính quy, kỷ luật và yêu cầu bảo mật của Nhà trường quân đội.

5. Kết luận

Chủ động chuyển đổi số trong giảng dạy của giảng viên ở Trường Sĩ quan Chính trị đã có những chuyển biến tích cực trên cả nhận thức, thái độ và hành vi. Nổi bật là nhận thức về vai trò của chuyển đổi số, tinh thần đồng thuận với đổi mới, ý thức bảo đảm an toàn thông tin và các hoạt động tự bồi dưỡng, khai thác học liệu số. Tuy nhiên, hành vi vẫn là phương diện có mức biểu hiện thấp hơn, nhất là ở các hoạt động đòi hỏi tích hợp công nghệ sâu với phương pháp sư phạm. Quá trình này chịu tác động đồng thời của năng lực, động cơ, tâm thế, kinh nghiệm của giảng viên và các điều kiện về cơ chế, hạ tầng, học liệu, môi trường tổ chức. Vì vậy, nâng cao tính chủ động chuyển đổi số cần tập trung vào việc chuyển hóa nhận thức và thái độ thành hành vi nghề nghiệp tự giác, có kế hoạch, có khả năng tự kiểm tra, tự điều chỉnh, đồng thời bảo đảm chặt chẽ yêu cầu chính quy, kỷ luật và an toàn thông tin trong môi trường quân sự.

Vũ Hoàng Sơn - Ma Khánh Trung

Khoa Tâm lý học quân sự/ Trường Sĩ quan Chính trị/ Bộ Quốc phòng


Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người", Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.136.

[2]. Quân uỷ Trung ương (2022), Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW của Quân uỷ Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, Hà Nội.

[3]. Tổng cục Chính trị (2022), Giáo trình giáo dục học quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[4]. Trường Sĩ quan Chính trị (2020), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị lần thứ X nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội.

[5]. Trường Sĩ quan Chính trị (2023), Quyết định số 2529/QĐ-SQCT ngày 05/9/2023 của Trường Sĩ quan Chính trị về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học, Hà Nội.

[6]. Nguyễn Quang Quyến (2023), "Đổi mới phương pháp dạy học nâng cao tính chủ động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên trong thời đại công nghệ 4.0", Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 303(2), tr.269-271.

[7]. Nguyễn Thị Kim Chi (2020), "Ảnh hưởng của tính cách chủ động đến khả năng thích ứng của cán bộ quản lý", Tạp chí Công thương điện tử, ngày 13/3/2020.

[8]. Anderson, J. R. & Bower, G. H. (1973), Human associative memory, Psychology Press, New York.

[9]. Ashford, S. J., & Black, J. S. (1996), "Proactivity during organizational entry: The role of desire for control", Journal of Applied Psychology, 81(2), pp.199-214.