Ảnh minh họa
Từ khóa: chuyển đổi số; quản lý nhà nước; nguồn lực tôn giáo; không gian mạng;
1. MỞ ĐẦU
Chuyển đổi số đang làm thay đổi đồng thời phương thức quản lý nhà nước, tổ chức sinh hoạt tôn giáo và huy động các nguồn lực xã hội. Đây không chỉ là việc đưa thủ tục lên môi trường điện tử, mà là quá trình tổ chức lại dữ liệu, quy trình, quan hệ phối hợp và phương thức cung cấp giá trị. Trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, yêu cầu này càng rõ khi Việt Nam có 16 tôn giáo với 43 tổ chức được công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động; số tín đồ tăng từ 17,4 triệu người năm 2003 lên khoảng 27,7 triệu người năm 2023[1]. Quy mô chủ thể lớn, mạng lưới rộng và hoạt động đa dạng đặt ra nhu cầu quản trị chính xác hơn, đồng thời mở ra khả năng kết nối nguồn lực tôn giáo với an sinh xã hội, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia xác định dữ liệu và nền tảng số là điều kiện quan trọng để đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước, kinh tế và xã hội; Nghị quyết số 57-NQ/TW tiếp tục đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí đột phá phát triển[2]. Đáng chú ý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16, được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, lần đầu quy định trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đồng thời giao nhiệm vụ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành[3]. Bối cảnh đó đòi hỏi nhìn chuyển đổi số theo hai chiều gắn bó: nâng cao hiệu lực quản trị và tạo điều kiện phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển xã hội.
2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG PHÁT HUY NGUỒN LỰC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
Nguồn lực tôn giáo có thể hiểu là tổng thể những giá trị, tiềm năng và điều kiện về tinh thần, con người, tổ chức và vật chất được hình thành trong đời sống tôn giáo, có khả năng huy động và chuyển hóa thành những đóng góp cho xã hội. Nguồn lực này bao gồm các giá trị đạo đức; đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tình nguyện viên; mạng lưới tổ chức; cơ sở vật chất, tài chính cùng các thiết chế giáo dục, y tế, từ thiện. Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tiềm năng tôn giáo chỉ trở thành nguồn lực thực tế khi được nhận diện, tổ chức, huy động và sử dụng trong những điều kiện phù hợp[4]. Vì vậy, chuyển đổi số không trực tiếp tạo ra nguồn lực tôn giáo, mà hỗ trợ nhận diện, kết nối, điều phối, minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng những nguồn lực hiện có. Trong quản lý nhà nước, chuyển đổi số giúp chuẩn hóa dữ liệu về tổ chức, nhân sự, cơ sở và hoạt động tôn giáo; liên thông thông tin giữa trung ương với địa phương; giảm kê khai trùng lặp và hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Cơ sở dữ liệu dùng chung còn tạo điều kiện chuyển từ quản lý theo từng vụ việc sang phân tích xu hướng, dự báo tình hình và xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng. Tuy nhiên, dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo có thể liên quan đến đời sống riêng tư và niềm tin của cá nhân. Do đó, việc thu thập, lưu trữ, khai thác và chia sẻ phải xác định rõ mục đích, phạm vi truy cập, thời hạn lưu giữ và trách nhiệm bảo vệ theo pháp luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân[5]. Đối với phát huy nguồn lực tôn giáo, nền tảng số có thể kết nối nhu cầu xã hội với khả năng tham gia của các tổ chức tôn giáo; hỗ trợ quản lý tình nguyện viên, xác thực lời kêu gọi, công khai việc tiếp nhận và phân phối nguồn lực, đồng thời hạn chế tình trạng hỗ trợ trùng lặp hoặc bỏ sót đối tượng. Dữ liệu số còn cho phép chuyển từ thống kê kinh phí, hiện vật và số lượt trợ giúp sang đánh giá kết quả đối với người thụ hưởng như khả năng tiếp cận dịch vụ, phục hồi sinh kế và hòa nhập cộng đồng. Điều này phù hợp với quan niệm "tôn giáo số" của Heidi Campbell và Ruth Tsuria, theo đó đời sống tôn giáo trực tuyến và ngoại tuyến ngày càng đan xen, đòi hỏi hoạt động nghiên cứu và quản lý phải xem xét đồng thời cả hai không gian[6]. Thực tế cho thấy Việt Nam đã từng bước hình thành nền tảng chính sách cho chuyển đổi số trong quản trị công. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" xác định mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Nhiều thủ tục hành chính đã được cung cấp trực tuyến; dữ liệu dân cư và định danh điện tử ngày càng được sử dụng rộng rãi. Trong lĩnh vực tôn giáo, các cơ quan quản lý và tổ chức tôn giáo đã sử dụng cổng thông tin điện tử, thư điện tử, mạng xã hội và nền tảng họp trực tuyến để phổ biến pháp luật, đăng ký hoạt động, kết nối chức sắc, tín đồ và triển khai các chương trình xã hội. Môi trường số đặc biệt hữu ích trong huy động cứu trợ, tìm kiếm tình nguyện viên, truyền tải thông tin và tiếp cận các nhóm dân cư di động. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo mới chủ yếu dừng ở số hóa một số thủ tục và phương thức trao đổi thông tin, chưa hình thành đầy đủ mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Dữ liệu về tổ chức, cơ sở, nhân sự và hoạt động xã hội của tôn giáo còn được thu thập theo yêu cầu của nhiều cơ quan, thiếu chuẩn dùng chung và cơ chế cập nhật thống nhất. Một số thủ tục đã có biểu mẫu điện tử nhưng quy trình xử lý chưa được tái cấu trúc, người thực hiện vẫn phải bổ sung hồ sơ giấy hoặc kê khai lại thông tin. Báo cáo về đóng góp xã hội của tôn giáo còn tập trung vào kinh phí, hiện vật và số lượt trợ giúp, trong khi thiếu các chỉ số đánh giá chất lượng, tác động và tính bền vững. Sự khác biệt về hạ tầng, nhân lực và kỹ năng số giữa các địa phương và tổ chức tôn giáo cũng làm cho khả năng tiếp cận, ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Cùng với những thuận lợi, không gian mạng làm phát sinh nguy cơ giả mạo chức sắc, cơ sở tôn giáo và tài khoản tiếp nhận từ thiện; xuyên tạc giáo lý; phát tán thông tin sai lệch, kích động, mê tín hoặc trục lợi; làm lộ thông tin cá nhân của người được trợ giúp. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh còn làm tăng khả năng giả mạo hình ảnh, giọng nói và thông điệp kêu gọi đóng góp. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 đã bổ sung quy định cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời Điều 8 xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chủ thể tôn giáo và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng[7]. Quyết định số 1382/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục đặt ra nhiệm vụ xây dựng thư viện số; số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính; triển khai định danh đối với tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư[8]. Đây là điều kiện để hình thành hạ tầng quản trị thống nhất, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phân loại dữ liệu, phân quyền truy cập, bảo đảm an toàn thông tin và ngăn ngừa việc thu thập, sử dụng dữ liệu bất hợp pháp. Tính cấp thiết của chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo còn xuất phát từ mức độ phổ cập Internet ở Việt Nam. Báo cáo Digital 2025: Vietnam ước tính đầu năm 2025 Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người sử dụng Internet, tương đương 78,8% dân số, và 76,2 triệu định danh người dùng mạng xã hội[9]. Các số liệu này cho thấy không gian số đã trở thành một bộ phận của đời sống xã hội và tôn giáo. Vì vậy, chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo phải vượt ra ngoài việc số hóa hồ sơ, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, đổi mới quy trình quản lý, minh bạch hóa hoạt động xã hội, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tạo môi trường thuận lợi để nguồn lực tôn giáo được phát huy đúng pháp luật, hiệu quả và bền vững.
3. GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG PHÁT HUY NGUỒN LỰC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế triển khai Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 theo hướng vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa xác định rõ quy trình hoạt động trên không gian mạng. Văn bản hướng dẫn cần phân biệt nội dung thông tin, sinh hoạt nội bộ, truyền giảng, quyên góp và cung ứng dịch vụ xã hội; quy định rõ trường hợp phải thông báo, đăng ký hoặc đề nghị; hạn chế phát sinh thủ tục đối với hoạt động thông tin thông thường. Trong giai đoạn trước ngày 01/01/2027, cần công bố sớm biểu mẫu điện tử, quy trình chuyển tiếp và tài liệu hướng dẫn dễ tiếp cận để tổ chức, cá nhân chủ động chuẩn bị.
Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu tín ngưỡng, tôn giáo theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", có mã định danh và chuẩn dữ liệu thống nhất. Kiến trúc dữ liệu nên gồm ba lớp: dữ liệu quản lý nhà nước; danh mục thông tin công khai đã được xác thực; dữ liệu tự nguyện về nguồn lực và hoạt động xã hội. Lớp thứ ba cần ghi nhận lĩnh vực thế mạnh, phạm vi phục vụ, nhân lực chuyên môn, cơ sở cung ứng và kết quả hoạt động, nhưng không buộc công khai thông tin nhạy cảm. Cơ chế cập nhật phải xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, lịch sử chỉnh sửa và quyền yêu cầu sửa dữ liệu.
Thứ ba, phát triển nền tảng kết nối nguồn lực tôn giáo với nhu cầu xã hội. Thay vì tạo một hệ thống khép kín, cơ quan quản lý có thể xây dựng cổng xác thực và giao diện kết nối để tổ chức tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp và tổ chức xã hội phối hợp. Mỗi chương trình cần công khai chủ thể thực hiện, mục tiêu, địa bàn, đối tượng, nguồn tiếp nhận và báo cáo kết quả. Với hoạt động quyên góp, nên áp dụng tài khoản chính danh, mã xác thực, chứng từ điện tử và cơ chế phản hồi; dữ liệu công khai phải đủ để giải trình nhưng không xâm phạm phẩm giá, đời tư của người được trợ giúp.
Thứ tư, xây dựng bộ chỉ số đánh giá theo kết quả thay vì chỉ thống kê đầu vào. Nhóm chỉ số tối thiểu có thể gồm: mức độ tiếp cận đúng đối tượng; tỷ lệ chi phí trực tiếp cho người thụ hưởng; thời gian đáp ứng; mức độ phối hợp; khả năng duy trì; phản hồi của người thụ hưởng; mức độ công khai và an toàn dữ liệu. Các chỉ số phải phù hợp từng lĩnh vực và quy mô tổ chức, tránh áp đặt một mẫu duy nhất cho mọi tôn giáo. Kết quả đánh giá nhằm cải thiện chương trình, lựa chọn mô hình tốt và tăng lòng tin, không phải xếp hạng niềm tin hay giáo lý.
Thứ năm, nâng cao năng lực số của cả cán bộ và chủ thể tôn giáo. Nội dung bồi dưỡng cần vượt khỏi thao tác nộp hồ sơ, bao gồm quản trị dữ liệu, truyền thông số, nhận diện giả mạo, an toàn thông tin, bảo vệ trẻ em và nhóm yếu thế, quản lý quyên góp, thiết kế dự án và đo lường tác động. Cần hình thành đầu mối hỗ trợ kỹ thuật ở địa phương, tài liệu hướng dẫn theo tình huống và kênh cảnh báo nhanh khi xuất hiện tài khoản giả, nội dung bị chỉnh sửa hoặc lời kêu gọi không xác thực.
Kết luận Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia ngày càng sâu rộng, chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo đã trở thành yêu cầu khách quan. Quá trình này không chỉ số hóa thủ tục mà còn đổi mới phương thức phát huy nguồn lực tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tôn giáo trên không gian mạng và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Để triển khai hiệu quả, cần hoàn thiện quy trình, thống nhất dữ liệu, bảo vệ thông tin, nâng cao năng lực số và tăng cường phối hợp giữa các chủ thể. Qua đó, nguồn lực tôn giáo được phát huy minh bạch, đúng pháp luật và đóng góp bền vững cho phát triển xã hội Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Campbell, Heidi A. và Tsuria, Ruth (chủ biên) (2022), Digital Religion: Understanding Religious Practice in Digital Media, ấn bản thứ hai, Routledge, New York.
3. Chính phủ (2023), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4. Chu Văn Tuấn (2020), "Một số vấn đề lý luận về nguồn lực tôn giáo", trong Viện Tôn giáo và Tín ngưỡng, Nguồn lực tôn giáo – Kinh nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr. 103–116.
5. DataReportal (2025), Digital 2025: Vietnam, https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam (truy cập ngày 15/9/2026).
6. Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024.
7. Quốc hội (2026), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 ngày 23/4/2026.
8. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
9. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1382/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
[1] Ban tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, H. 2023
[2] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"; Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[3] Quốc hội, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 ngày 23/4/2026, Điều 8, khoản 8 Điều 56; hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
[4] Chu Văn Tuấn, "Một số vấn đề lý luận về nguồn lực tôn giáo", trong Viện Tôn giáo và Tín ngưỡng, Nguồn lực tôn giáo – Kinh nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr. 103–116.
[5] Quốc hội, Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024; Chính phủ, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
[6] Heidi A. Campbell và Ruth Tsuria (chủ biên), Digital Religion: Understanding Religious Practice in Digital Media, ấn bản thứ hai, Routledge, New York, 2022.
[7] Quốc hội, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 ngày 23/4/2026, khoản 6 Điều 7 và Điều 8.
[8] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1382/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
[9] Simon Kemp (2025), Digital 2025: Vietnam, DataReportal, công bố ngày 25/02/2025, https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam (truy cập ngày 15/9/2026). Báo cáo lưu ý chỉ số "social media user identities" có thể bao gồm các tài khoản trùng lặp và không đồng nhất với số cá nhân sử dụng mạng xã hội.
NCS. Trần Trung Tuyến
Trường ĐTCB Lê Hồng Phong Hà Nội