Chuyển đổi số trong thực thi chính sách y tế cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số: từ lý luận đến thực tiễn tại xã xuân hòa tỉnh Lào Cai

Thứ năm, 02/07/2026 - 15:54

Tóm tắt: Bài viết phân tích tiến trình chuyển đổi số trong thực thi chính sách y tế cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, lấy thực tiễn từ xã Xuân Hòa (tỉnh Lào Cai). Thông qua lăng kính lý luận về quản lý nhà nước và chính sách công, nghiên cứu làm rõ những thành tựu bước đầu mang tính đột phá về độ bao phủ chính sách, đồng thời nhận diện thẳng thắn các "điểm nghẽn" về hạ tầng kỹ thuật, bất cập trong thể chế phân cấp khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, và rào cản năng lực số của cộng đồng.

Từ việc phân tích căn nguyên của những tồn tại này, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, hướng tới việc xây dựng mạng lưới y tế cơ sở hiện đại, minh bạch, phục vụ hiệu quả nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong kỷ nguyên số.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tiến trình xây dựng Chính phủ số, y tế cơ sở được xác định là "mắt xích" đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân. Việc chuyển đổi từ phương thức quản trị truyền thống sang quản trị số không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là một cuộc cách mạng về tư duy quản lý nhà nước. Tuy nhiên, tại các địa bàn vùng cao, khoảng cách về hạ tầng và rào cản văn hóa đang tạo ra những "điểm nghẽn" thực thi. Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số y tế tại xã Xuân Hòa, tỉnh Lào Cai - một địa bàn vừa thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách.

NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận về chuyển đổi số trong quản lý y tế cơ sở

Chuyển đổi số trong y tế cơ sở không đơn thuần là việc trang bị máy tính hay số hóa các sổ sách thủ công, mà là một sự thay đổi mang tính chiến lược về phương thức quản trị và cung ứng dịch vụ. Đây là quá trình ứng dụng tổng thể các công nghệ số (như dữ liệu lớn, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo) để tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, từ quản lý hồ sơ sức khỏe cá nhân, tiêm chủng, giám sát dịch bệnh đến quản lý dược phẩm và thanh toán bảo hiểm y tế. Dưới góc độ lý luận chính sách công, hiệu lực thực thi chính sách chuyển đổi số tại tuyến y tế cơ sở chịu sự tác động biện chứng của ba nhóm nhân tố then chốt:

Thứ nhất, năng lực của bộ máy hành chính và nhân lực y tế: Đây là chủ thể quyết định sự thành bại của chính sách. Năng lực này không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng phần mềm mà còn bao gồm tư duy quản trị dựa trên dữ liệu. Tại cấp cơ sở, cán bộ y tế phải đóng vai trò là "kỹ thuật viên" xử lý dữ liệu đầu vào. Nếu bộ máy thiếu hụt về số lượng hoặc hạn chế về trình độ công nghệ thông tin (CNTT), chính sách sẽ rơi vào tình trạng "nghẽn lệnh" ngay từ khâu tiếp nhận.

Thứ hai, tính đồng bộ và hiện đại của hạ tầng kỹ thuật: Hạ tầng CNTT là "mạch máu" của chuyển đổi số. Hệ thống này bao gồm mạng lưới kết nối internet, trang thiết bị đầu cuối (máy tính, máy scan) và tính liên thông của các phần mềm dùng chung. Trong quản lý nhà nước, hạ tầng phải đảm bảo tính thống nhất từ trung ương đến cơ sở để dữ liệu được chảy xuyên suốt, tránh tình trạng "cát cứ dữ liệu" hay lỗi nhịp giữa hệ thống ngành dọc và chính quyền địa phương.

Thứ ba, sự thích ứng và đồng thuận của cộng đồng thụ hưởng: Hiệu quả của chính sách được đo lường bằng sự hài lòng và mức độ sử dụng của người dân. Đặc biệt, tại các vùng dân tộc thiểu số, thực thi chính sách số phải giải quyết được bài toán "khoảng cách số". Điều này liên quan trực tiếp đến "năng lực số" của cộng đồng - khả năng tiếp cận, hiểu và sử dụng các công cụ kỹ thuật số (như định danh điện tử, ứng dụng theo dõi sức khỏe).

Trong lý luận quản lý nhà nước về vùng đặc thù, chính sách không thể áp dụng rập khuôn mà phải có tính "tương thích hạ tầng" và "phù hợp văn hóa". Tại các địa bàn có địa hình hiểm trở, hạ tầng số thường mỏng yếu và không ổn định. Do đó, việc thực thi chính sách cần sự linh hoạt trong việc lồng ghép các yếu tố hỗ trợ trực tiếp (cầm tay chỉ việc) song song với các giải pháp công nghệ. Chuyển đổi số tại đây phải được nhìn nhận là công cụ để rút ngắn khoảng cách tiếp cận dịch vụ công, thay vì vô tình tạo ra một rào cản mới đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội.

2. Thực trạng chuyển đổi số trong thực thi chính sách y tế cơ sở tại xã Xuân Hòa

2.1. Những kết quả đạt được

Trong bối cảnh xã Xuân Hòa sau sáp nhập trở thành đơn vị hành chính có diện tích tự nhiên rộng lớn lên tới 107,78 km², với địa hình đồi núi dốc và 30 thôn, bản nằm chia cắt, những kết quả đạt được trong công tác chuyển đổi số y tế không chỉ là những con số thống kê mà là minh chứng cho sự thay đổi về phương thức quản trị công tại cơ sở.

Thứ nhất, đột phá trong độ bao phủ chính sách và quản trị sức khỏe cư dân. Mặc dù 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ dân trí không đồng đều, xã đã đạt được tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế lên tới 97%, một con số rất ấn tượng đối với một xã còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Đặc biệt, việc triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử - "xương sống" của chuyển đổi số y tế - đã đạt kết quả ấn tượng với 75,2% dân số được quản lý (tương ứng 4.339 trên tổng số 5.764 người dân trong độ tuổi theo dõi). Kết quả này vượt xa chỉ tiêu kế hoạch đề ra là từ 50% trở lên, cho thấy nỗ lực vượt bậc trong việc số hóa dữ liệu nhân khẩu học và bệnh lý của cư dân vùng cao, tạo nền tảng cho việc dự báo và giám sát dịch bệnh trên môi trường số.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước thông qua chuẩn hóa quy trình y tế. Chuyển đổi số đã thúc đẩy việc chuẩn hóa các tiêu chí chuyên môn. Xã đã đạt 82 điểm theo Bộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã, duy trì tỷ lệ 100% trạm y tế đạt chuẩn. Hiệu quả thực thi chính sách còn được đo lường qua sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế, đạt tỷ lệ trên 90%. Trong năm 2025, Trạm y tế đã thực hiện khám chữa bệnh cho 15.176 lượt người, đảm bảo không bị gián đoạn hoạt động ngay cả trong giai đoạn chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Việc triển khai hiệu quả các phần mềm quản lý tiêm chủng, phòng chống lao, sốt rét và quản lý bệnh không lây nhiễm đã giúp kiểm soát tốt dịch bệnh, không để xảy ra dịch lớn trên địa bàn.

Thứ ba, thiết lập hạ tầng kỹ thuật và số hóa quy trình điều hành hành chính. Cùng với sự vận hành của Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, hạ tầng công nghệ thông tin đã được đầu tư cơ bản với hệ thống mạng nội bộ (LAN) và đường truyền internet ổn định. Toàn bộ các quy trình điều hành, gửi nhận văn bản và sử dụng chữ ký số đã được triển khai đầy đủ đến cấp xã. Tính đến tháng 7 năm 2025, Trung tâm đã tiếp nhận 546 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó giải quyết trước hạn và đúng hạn đạt tỷ lệ rất cao (494 hồ sơ trước hạn). Song song với đó, hệ thống truyền thông đa phương tiện đã được kích hoạt mạnh mẽ thông qua trang Fanpage "Thông tin xã Xuân Hòa" và các nhóm mạng xã hội của Trạm y tế, trường học, kết hợp với hệ thống loa phát thanh xã đạt 105,2% kế hoạch truyền thông. Sự kết hợp giữa hạ tầng kỹ thuật và các kênh thông tin số đã giúp chính sách y tế thẩm thấu nhanh hơn đến tận các bản làng xa xôi nhất.

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả mang tính bước ngoặt, quá trình thực thi chính sách y tế công cộng trên môi trường số tại xã Xuân Hòa vẫn đang đối mặt với những "lực cản" lớn, bộc lộ rõ qua ba khía cạnh sau:

Một là, điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị phần cứng. Để thực hiện tốt dịch vụ công trực tuyến và quản lý hồ sơ y tế, hạ tầng công nghệ là điều kiện tiên quyết. Tuy nhiên, một số máy móc, trang thiết bị phục vụ công việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã và Trạm y tế (như máy tính, máy photo, máy scan) đã cũ, hết thời hạn sử dụng và chưa đáp ứng được yêu cầu số hóa hồ sơ. Trung tâm Dịch vụ công của xã đang thiếu hụt các thiết bị chuyên dụng như máy scan khổ A3 hay hệ thống lấy số tự động. Nghiêm trọng hơn, cơ sở vật chất của y tế tuyến xã đang chịu tổn thất lớn do thiên tai; cụ thể tại trạm chính, trần nhà bị bong tróc khu vực sảnh, mối chốt cửa đã han gỉ; tại phân trạm Tân Dương, hệ thống tường rào bị nứt nghiêng và đổ khoảng 20m, cửa trạm bị vỡ chốt, kẹt bung. Các trang thiết bị văn phòng phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh còn thiếu hoặc hư hỏng nặng, gây khó khăn rất lớn cho việc duy trì hoạt động chuyên môn ổn định.

Hai là, tính thiếu đồng bộ trong hệ thống phần mềm và kết nối liên thông dữ liệu. Sự thiếu liên thông đang tạo ra những rào cản hành chính vô hình trên không gian mạng. Cụ thể, tính liên thông gửi nhận văn bản giữa các phần mềm do các đơn vị cung cấp khác nhau (như VNPT và Viettel) đôi khi chưa được đảm bảo xuyên suốt. Trong lĩnh vực y tế, việc ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm quản lý hành chính ở trạm y tế còn nhiều hạn chế, chưa được trang bị đồng bộ. Thêm vào đó, công tác báo cáo, thống kê và giám sát y tế chưa có hướng dẫn thống nhất giữa hệ thống ngành và chính quyền địa phương, gây khó khăn trong việc tổng hợp dữ liệu. Đặc biệt, hệ thống máy tính xuống cấp kết hợp với việc phần mềm quản lý dùng chung (điển hình là ứng dụng VNeID) nhiều lúc bị nghẽn mạng vào giờ cao điểm đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc nộp và xử lý hồ sơ trực tuyến của công dân.

Ba là, khoảng cách về năng lực số và rào cản tiếp cận từ phía người dân. Đây là điểm nghẽn mang tính đặc thù của vùng cao. Xã Xuân Hòa có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 90%, với 22/30 thôn, bản vẫn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Do mặt bằng dân trí không đồng đều, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của người dân trên địa bàn còn nhiều hạn chế. Đa phần người dân chưa chủ động cài đặt tài khoản định danh điện tử VNeID mức độ 2, hoặc thường xuyên quên mật khẩu đăng nhập. Hậu quả là, thay vì tự thao tác trên cổng dịch vụ công, người dân vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ của cán bộ, buộc công chức phải hướng dẫn chi tiết từng bước, làm mất rất nhiều thời gian tiếp nhận hồ sơ. Mặt khác, sau khi thực hiện sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, nhiều thủ tục hành chính bị điều chỉnh về địa điểm tiếp nhận hoặc thay đổi quy trình giải quyết, khiến người dân càng thêm lúng túng trong việc tiếp cận và tuân thủ các quy định mới trên môi trường điện tử.

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

Những tồn tại, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số y tế tại xã Xuân Hòa xuất phát từ sự đan xen của nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, bộc lộ rõ sự chênh lệch giữa "yêu cầu nhiệm vụ" và "khả năng đáp ứng" của tuyến cơ sở.

Về nguyên nhân khách quan: Thứ nhất, áp lực "kép" từ quy mô hậu sáp nhập và đặc thù địa hình chia cắt: Xã Xuân Hòa quản lý một địa bàn rộng lớn (107,78 km²), trải dài trên 30 thôn, bản, trong đó có tới 22 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Sự phân tán dân cư kết hợp với địa hình đồi núi hiểm trở làm đứt gãy tính liên tục của hạ tầng viễn thông, đồng thời khiến chi phí và thời gian tiếp cận để "cầm tay chỉ việc" hướng dẫn công nghệ cho người dân tăng cao.

Thứ hai, tác động tiêu cực của thiên tai đến hạ tầng cơ sở: Trước thềm chuyển đổi số mạnh mẽ, hạ tầng y tế xã lại chịu tổn thất nặng nề từ hoàn lưu bão số 10, khiến cơ sở vật chất bị xuống cấp trầm trọng (trạm chính hỏng trần, phân trạm nứt đổ tường rào). Việc phải dồn lực lượng và ngân sách để khắc phục hậu quả thiên tai, duy trì hoạt động khám chữa bệnh cơ bản đã làm chậm lại nhịp độ đầu tư, nâng cấp các trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số.

Thứ ba, độ trễ trong nhận thức và năng lực số của cộng đồng: Với 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, tập quán sinh hoạt truyền thống và rào cản về ngôn ngữ, dân trí tạo ra một "độ trễ" tất yếu khi tiếp nhận các phương thức quản trị mới trên môi trường điện tử.

Về nguyên nhân chủ quan: Thứ nhất, "nút thắt" trong phân cấp, phân quyền và phối hợp liên ngành: Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, thể chế quản lý bộc lộ những khoảng trống. Việc thiếu các văn bản hướng dẫn đồng bộ, thống nhất giữa cơ quan quản lý ngành dọc (Sở Y tế, Trung tâm Y tế) và cơ quan quản lý lãnh thổ (UBND xã) dẫn đến tình trạng lúng túng trong báo cáo, thống kê và giám sát chuyên môn.

Thứ hai, sự quá tải của bộ máy và khủng hoảng thiếu nhân lực chất lượng cao: Đội ngũ cán bộ y tế cơ sở đang đối mặt với tình trạng "vừa thiếu, vừa yếu". Trạm Y tế hiện đang khuyết thiếu chức danh Bác sĩ và Trưởng trạm, trong khi cán bộ hiện tại phải kiêm nhiệm quá nhiều lĩnh vực mà không được hưởng chế độ phụ cấp tương xứng (vẫn áp dụng mức phụ cấp cũ theo Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg, ngày 28/12/201 của Thủ tướng Chính phủ) Quyết định về việc quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch). Sự quá tải này khiến họ thiếu thời gian và tâm trí để trau dồi kỹ năng số hóa quy trình công việc.

Thứ ba, lúng túng trong năng lực quản trị ngân sách và dự án: Mặc dù được phân bổ nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu quốc gia (Dự án 7), nhưng do trước đây Trạm y tế chỉ là đơn vị thụ hưởng (Trung tâm Y tế huyện thực hiện), việc đột ngột phải trực tiếp đóng vai trò chủ đầu tư khiến cán bộ cấp xã gặp vô vàn khó khăn trong khâu lập dự toán, kế hoạch và quyết toán dự án. Hậu quả là nguồn kinh phí chưa được khơi thông hiệu quả để tái đầu tư có trọng điểm cho các hoạt động số hóa hệ thống y tế cơ sở.

3. Giải pháp nâng cao hiệu lực chuyển đổi số trong thực thi chính sách y tế cơ sở tại xã Xuân Hòa hiện nay

Căn cứ vào thực tiễn quản lý nhà nước, để công cuộc chuyển đổi số y tế cơ sở không dừng lại ở hình thức mà thực sự "về đích" và tạo ra giá trị bền vững, cần triển khai quyết liệt và đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và đồng bộ hóa nền tảng quản trị dữ liệu. Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các cơ quan quản lý cấp trên cần sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của UBND xã cũng như Trạm Y tế, Phân trạm y tế trong quản lý nhà nước về y tế cơ sở. Về mặt kỹ thuật, Bộ Y tế và các cơ quan liên quan cần hướng dẫn thống nhất một hệ thống báo cáo thống kê, báo cáo phần mềm y tế dùng chung để thực hiện các chương trình y tế. Việc phá bỏ sự "cát cứ" thông tin giữa các phần mềm không chỉ đảm bảo tính liên thông dữ liệu mà còn trực tiếp giải phóng viên chức y tế khỏi áp lực báo cáo thủ công trùng lặp, giảm thiểu thủ tục hành chính, từ đó tập trung vào chuyên môn khám chữa bệnh.

Hai là, tái cơ cấu nguồn lực tài chính, ưu tiên đầu tư hạ tầng số "chân rết". UBND cấp tỉnh và cấp huyện cần có cơ chế cấp kinh phí đặc thù nhằm trang bị máy móc, thiết bị thực hiện hệ thống điều hành các dịch vụ hành chính công và thiết bị công nghệ thông tin. Cụ thể, cần khẩn trương trang bị, thay thế hệ thống máy tính đã xuống cấp, bổ sung máy scan khổ A3 và hệ thống lấy số tự động cho Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Xuân Hòa. Đồng thời, song song với việc hỗ trợ kinh phí sửa chữa, khắc phục cơ sở vật chất bị tàn phá sau bão tại trạm chính (bong tróc trần nhà, mối chốt cửa han gỉ) và phân trạm Tân Dương (tường rào nứt đổ, hệ thống cửa vỡ chốt), cần chú trọng đầu tư mua sắm trang thiết bị văn phòng thiết yếu và hạ tầng viễn thông ổn định, đảm bảo dòng chảy dữ liệu sức khỏe của người dân được cập nhật liên tục, không bị đứt gãy.

Ba là, nâng cao năng lực thực thi và cải cách chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ. Cần tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng phần mềm y tế cơ sở cho đội ngũ công chức xã và viên chức Trạm y tế sau khi chuyển đổi mô hình. Bên cạnh kỹ năng công nghệ số, việc đào tạo năng lực quản lý nhà nước, đặc biệt là tháo gỡ khó khăn trong khâu xây dựng kế hoạch, lập dự toán và quyết toán các nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia (như Dự án 7) là vô cùng cấp thiết. Hơn thế nữa, để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực (như biên chế Bác sĩ), cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ kiêm nhiệm phụ trách công tác y tế tại cấp xã, đảm bảo chế độ tương xứng với trách nhiệm thực thi nhiệm vụ.

Bốn là, đổi mới phương thức tiếp cận cộng đồng, phát huy các thiết chế văn hóa bản địa. Để chuyển đổi số thực sự đi vào đời sống của 90% đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng dân trí không đồng đều, cần thay đổi tư duy từ tuyên truyền một chiều sang tương tác đa chiều. Chính quyền cơ sở cần phát huy tối đa vai trò của mạng lưới nhân viên y tế thôn bản và các tổ công nghệ số để hướng dẫn người dân sử dụng sổ khám chữa bệnh điện tử và các ứng dụng định danh trực tiếp tại cộng đồng. Các nội dung hướng dẫn dịch vụ công cần được lồng ghép khéo léo vào các buổi hội nghị tuyên vận, các buổi họp thôn, khai thác văn hóa bản địa và sự vào cuộc của người có uy tín để đồng bào dễ tiếp thu. Mục tiêu tối thượng là từng bước chuyển đổi nhận thức, thay đổi hành vi, giảm bớt sự lúng túng của người dân trước các quy định mới, tiến tới chuyển từ việc cán bộ phải mất nhiều thời gian "làm thay" sang trao quyền để "người dân tự thực hiện".

KẾT LUẬN

Chuyển đổi số y tế cơ sở tại xã Xuân Hòa không đơn thuần là một phép cộng cơ học của việc lắp đặt máy móc hay cài đặt phần mềm. Sâu xa hơn, đó là quá trình cải cách phương thức quản trị nhà nước nhằm thu hẹp độ trễ giữa chính sách vĩ mô và thực tiễn sinh động tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những rào cản hiện hữu về hạ tầng kỹ thuật, sự chồng chéo trong phân cấp hay hạn chế về năng lực số của cộng đồng không phải là điểm nghẽn bất biến, mà chính là "phép thử" đối với năng lực lãnh đạo, điều hành linh hoạt của chính quyền cơ sở trong giai đoạn chuyển đổi mô hình chính quyền hai cấp.

Bám sát chủ đề hành động "Đoàn kết - Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu quả - Phát triển", việc quyết liệt tháo gỡ các nút thắt về thể chế và khơi thông nguồn lực đầu tư sẽ là chìa khóa then chốt. Thành công của công cuộc chuyển đổi số này sẽ không chỉ được đo đếm bằng những dữ liệu trên hệ thống điện tử, mà đích đến cuối cùng là xây dựng một hệ thống y tế cơ sở hiện đại, minh bạch và kiến tạo nên "lá chắn" bảo vệ sức khỏe vững chắc, phục vụ tốt nhất nhu cầu của gần 13.000 đồng bào các dân tộc nơi đây trong kỷ nguyên số.

Ths. Hoàng Khắc Cương - Trường Chính trị tỉnh Lào Cai


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo Số: 208/BC-UBND Xuân Hòa, ngày 09 tháng 12 năm 2025 về Công tác chỉ đạo, điều hành, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.

2. Báo cáo Số: 304/BC-TYT, ngày tháng 12 năm 2025 kết quả thực hiện các hoạt động về công tác Y tế - dân số xã Xuân Hòa năm 2025 và Phương hướng hoạt động năm 2026

3. Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg, ngày 28/12/201 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định về việc quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch.

4. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2023), Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 25/10/2023 về tiếp tục củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở trong tình hình mới.

5. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

6. Bộ Y tế (2020), Quyết định số 5316/QĐ-BYT ngày 22/12/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số y tế đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

7. Tỉnh ủy Lào Cai (2022), Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 17/01/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số tỉnh Lào Cai đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

8. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2022), Kế hoạch số 135/KH-UBND ngày 24/3/2022 về Chuyển đổi số ngành y tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030.

9. Tỉnh ủy Lào Cai (2020), Đề án số 11-ĐA/TU ngày 11/12/2020 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển y tế, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020-2025.

10. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị: Kiến thức quản lý nhà nước và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.