Cơ sở Triết học của phát triển văn hoá và con người Việt Nam trong xây dựng Quốc gia hạnh phúc hiện nay

Thứ tư, 03/06/2026 - 14:08

Xây dựng quốc gia hạnh phúc là mục tiêu cốt lõi của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, việc phát triển văn hóa và con người đóng vai trò nền tảng, vừa là động lực, vừa là mục tiêu tối hậu.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bài viết tập trung phân tích cơ sở triết học chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa, con người với sự phát triển xã hội, đồng thời đánh giá thực trạng của mối quan hệ này thông qua các số liệu thống kê cập nhật và định hướng mới nhất từ Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm vận dụng sáng tạo các nguyên lý triết học vào thực tiễn xây dựng đất nước, hướng tới một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

Từ khoá: Phát triển văn hoá, con người Việt Nam; quốc gia hạnh phúc.

Phát triển văn hoá và con người Việt Nam là nền tảng, cội nguồn để xây dựng quốc gia hạnh phúc. Do đó, việc luận giải làm rõ cơ sở lý luận triết học của việc phát triển văn hoá và con người Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng để đánh thức, khơi dậy và phát huy giá trị văn hoá, bản chất tốt đẹp con người Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Đồng thời, khắc phục những hạn chế, thiếu xót trong quá trình xây dựng, phát triển văn hoá và con người Việt Nam; từ đó, xác định các biện pháp xây dựng, phát triển văn hoá con người Việt Nam toàn diện về đức -trí- thể-mỹ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số"(1).

1. Cơ sở lý luận triết học và thực trạng phát triển văn hóa, con người Việt Nam dưới lăng kính Đại hội XIV

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, đích đến cuối cùng của mọi mô hình xã hội và thể chế chính trị luôn là sự giải phóng con người, mang lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc. Tại Việt Nam, Đại hội XIV của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử đặc biệt, chính thức tuyên bố đưa đất nước bước vào "Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc". Trong kỷ nguyên này, khát vọng phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân không còn là mục tiêu định hướng tầm xa mà đã trở thành hệ mệnh lệnh hành động trực tiếp, dẫn dắt toàn bộ tiến trình hoạch định chính sách.

Để hiện thực hóa khát vọng này, tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội XIV đã đạt đến tầm vóc mới khi nâng tầm văn hóa thành "trụ cột phát triển toàn diện", ngang hàng với chính trị, kinh tế và xã hội. Bản chất của bước đột phá này bộc lộ sâu sắc thế giới quan duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật. Việc nghiên cứu cơ sở triết học của phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội XIV có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, giúp định hình con đường đi tới một quốc gia hạnh phúc vững bền, đưa dân tộc vững bước tiến cùng các cường quốc năm châu.

Cơ sở lý luận triết học về văn hóa, con người và hạnh phúc trước hết được bắt nguồn từ những quan điểm kinh điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Triết học Mác-Lênin không nhìn nhận con người và văn hóa như những thực thể trừu tượng, cô lập hay bất biến, mà đặt chúng trong dòng chảy của lịch sử và phương thức sản xuất vật chất. C.Mác đã khẳng định trong luận đề về Phoiơbắc rằng bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của từng cá nhân riêng biệt, mà trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Con người hình thành, phát triển và bộc lộ bản chất của mình thông qua lao động sản xuất và các quan hệ giao tiếp xã hội. Do đó, một quốc gia hạnh phúc không thể được xây dựng từ những cá nhân vị kỷ, mà phải từ những con người có mối liên hệ hữu cơ, hài hòa với cộng đồng và xã hội.

Đồng thời, theo triết học Mác, ý thức xã hội nói chung và văn hóa nói riêng do tồn tại xã hội quyết định. Tuy nhiên, văn hóa có tính độc lập tương đối và tác động trở lại mạnh mẽ đối với kinh tế và xã hội. Văn hóa không chỉ là sản phẩm tinh thần thụ động mà còn có thể trở thành lực lượng vật chất to lớn khi nó thâm nhập vào quần chúng, định hình tư duy, lối sống và hành vi của con người. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chỉ ra rằng sự phát triển của con người vừa là kết quả, vừa là tiền đề cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Khi con người được giải phóng khỏi sự tha hóa của lao động, được tôn trọng và tạo điều kiện phát triển toàn diện, họ mới đạt đến trạng thái tự do và hạnh phúc đích thực.

Kế thừa những giá trị khoa học đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, tạo nên một hệ thống tư tưởng sâu sắc về con người và văn hóa. Người định nghĩa văn hóa một cách toàn diện là phương thức sinh sống của con người, bao gồm toàn bộ những sáng tạo về vật chất và tinh thần nhằm mục đích sinh tồn và phát triển. Văn hóa không thể đứng ngoài kinh tế, chính trị mà phải ở trong kinh tế và chính trị, đóng vai trò soi đường cho quốc dân đi, dẫn đường cho sự tiến bộ của dân tộc. Hồ Chí Minh luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Người chỉ rõ rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Con người không phải là công cụ phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế thuần túy, mà mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đều phải hướng tới việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đối với Người, hạnh phúc của một quốc gia độc lập không có ý nghĩa gì nếu người dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đây chính là triết học hành động mang tính nhân văn cao cả, gắn liền lý luận với mục tiêu dân sinh thực tế.

Sự vận dụng đúng đắn cơ sở triết học về phát triển con người của Đảng đã mang lại những quả ngọt hiển hiện bằng những con số biết nói trong thực tiễn. Minh chứng rõ nét nhất là Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, đạt mức cao kỷ lục 0,766, xếp thứ 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhìn lại trục lịch sử từ năm 1990 đến nay, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ tới 53,5%, một tốc độ được Liên hợp quốc đánh giá là hình mẫu bền vững về phát triển lấy con người làm trung tâm. Các chỉ số thành phần bộc lộ chất lượng sống vượt trội so với mức thu nhập: tuổi thọ trung bình chạm mốc 74,5 tuổi, tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành duy trì trên 95% và Chỉ số Hạnh phúc quốc gia cũng tăng ấn tượng 11 bậc trên bản đồ thế giới. Sự chuyển hóa từ tiềm lực con người sang động lực vật chất đã giúp nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP bứt phá 8,02% trong những năm gần đây, dẫn đầu khu vực Đông Nam Á, nâng thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI) lên mức 4.300 USD. Song song với đó, bản sắc thượng tầng văn hóa được củng cố vững chắc với việc UNESCO liên tục ghi danh thêm nhiều di sản và tư liệu văn hóa mới của Việt Nam, khẳng định sức mạnh mềm của dân tộc trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, xem xét dưới lăng kính biện chứng duy vật, đằng sau những số liệu kinh tế và an sinh tích cực, xã hội vẫn đang phải đối mặt với những mâu thuẫn gay gắt giữa sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự hoàn thiện nhân cách con người. Báo cáo của UNDP chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: khi điều chỉnh hệ số theo mức độ bất bình đẳng, chỉ số HDI thực tế của Việt Nam bị sụt giảm gần 16% (xuống còn 0,641). Điều này chứng tỏ sự chênh lệch giàu nghèo, sự phân hóa trong tiếp cận y tế, giáo dục chất lượng cao giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược vẫn rất nặng nề. Đây chính là biểu hiện sinh động cho thấy thượng tầng tinh thần và các chính sách phân phối xã hội chưa bắt kịp tốc độ thay đổi vũ bão của hạ tầng kinh tế, tạo kẽ hở cho lối sống thực dụng nảy sinh, đe dọa trực tiếp đến mục tiêu xây dựng một quốc gia hạnh phúc đồng đều và toàn diện. Lối sống cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, vô cảm và tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là minh chứng cho thấy sự tha hóa của con người khi đối mặt với quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường, đòi hỏi một tư duy quản trị văn hóa có tính hệ điều tiết mạnh mẽ hơn.

2. Giải pháp đột phá phát triển văn hóa, con người hướng tới quốc gia hạnh phúc theo tinh thần Đại hội XIV

Để giải quyết triệt để các mâu thuẫn giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, đồng thời thực hiện hóa mục tiêu của "Kỷ nguyên vươn mình", cần triển khai hệ thống giải pháp mang tính đột phá dựa trên những quyết sách chiến lược mới nhất của Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa.

Một là, phải đổi mới căn bản tư duy lý luận, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đại hội XIV: Xem văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nền tảng phát triển toàn diện, bao hàm cả giá trị tinh thần lẫn vật chất; là một trong bốn 'trụ cột' phát triển ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội; đồng thời đóng vai trò là 'hệ điều tiết' bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Nhà nước cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy chi tiêu phúc lợi cho văn hóa sang tư duy đầu tư chiến lược cho tài sản văn hóa. Cần cụ thể hóa Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, phân bổ nguồn lực công và khơi thông các nguồn lực xã hội tương xứng với đầu tư cho hạ tầng kinh tế. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa hay xây dựng nông thôn mới từ nay phải được đặt dưới bộ lọc điều tiết của văn hóa, lấy mức độ hạnh phúc, sự an toàn và phẩm giá của người dân làm thước đo tối cao để khắc phục triệt để tình trạng sụt giảm 16% chỉ số HDI do bất bình đẳng xã hội gây ra.

Hai là, tập trung hoàn thiện và đưa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam vào chiều sâu thực tiễn xã hội. Đại hội XIV xác định đây là bộ mã định danh tinh thần của dân tộc trong thế giới phẳng. Hệ giá trị quốc gia với các mục tiêu cốt lõi như hòa bình, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc phải trở thành triết lý phát triển của mọi cơ quan quản lý nhà nước. Hệ giá trị con người thời đại mới - yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ khương và sáng tạo - cần được thể chế hóa thành các quy tắc ứng xử cụ thể trong nhà trường, công sở, doanh nghiệp và gia đình. Giáo dục quốc dân phải thực hiện bước nhảy vọt biện chứng, chuyển hẳn từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, nuôi dưỡng tư duy độc lập, tinh thần tự chủ, chiến thắng chủ nghĩa cá nhân vị kỷ để đào tạo nên những chủ thể có đủ bản lĩnh dẫn dắt đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Ba là, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa số theo tinh thần chủ động, bứt phá của Đại hội XIV. Dưới góc độ triết học, đây chính là quá trình chuyển hóa nguồn lực tinh thần (vốn văn hóa) thành lực lượng vật chất (kinh tế văn hóa), tạo ra sức mạnh nội sinh trực tiếp. Nhà nước cần xây dựng các cơ chế đặc thù, ưu đãi thuế, tín dụng để phát triển mạnh mẽ các ngành điện ảnh, du lịch di sản, nghệ thuật biểu diễn, và thiết kế sáng tạo dựa trên nền tảng số hóa. Phải biến kho tàng di sản phong phú của 54 dân tộc thành các sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao, có khả năng định vị thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. Qua đó, văn hóa không chỉ thực hiện chức năng giáo dục tinh thần mà còn trực tiếp đóng góp vào GDP, nâng cao thu nhập vật chất, mang lại niềm tự hào dân tộc và hạnh phúc tự thân cho người lao động sáng tạo.

Bốn là, cần chủ động nâng cao năng lực quản lý văn hóa và bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa bình đẳng của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc không để bộ máy trở thành điểm nghẽn, không để quy trình trở thành rào cản trong phát triển con người. Cần đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa ngang tầm nhiệm vụ, chăm lo đời sống cho đội ngũ văn nghệ sĩ. Đầu tư mạnh mẽ vào các công trình văn hóa, thể thao mang tầm vóc khu vực và quốc tế, đồng thời phủ sóng hạ tầng văn hóa số đến tận các vùng biên giới, hải đảo nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức. Sự giao lưu văn hóa quốc tế phải dựa trên thế vững vàng của bản sắc nội sinh, tiếp thu tinh hoa nhân loại theo quy luật biện chứng giữa cái riêng và cái chung, từ đó gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, khẳng định vị thế một Việt Nam văn minh, tự chủ và hạnh phúc trên trường quốc tế.

Tóm lại, xây dựng một quốc gia hạnh phúc trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là một mục tiêu lịch sử lớn lao nhưng đầy thách thức, đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ về cả lực lượng sản xuất lẫn thượng tầng kiến trúc tinh thần. Cơ sở triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khi được soi sáng bởi tư duy đột phá tại Đại hội XIV của Đảng, đã tạo nên một chỉnh thể lý luận hoàn chỉnh, định hướng cho sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và con người. Phát triển văn hóa với tư cách là một trụ cột độc lập, một hệ điều tiết phát triển, cùng với việc xây dựng con người Việt Nam toàn diện chính là chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa phồn vinh. Khi mỗi người dân đều trở thành chủ thể sáng tạo, được thụ hưởng công bằng các thành quả phát triển và thấm đẫm tinh thần nhân văn, đó cũng là lúc một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, cường thịnh và hạnh phúc vững bền trở thành hiện thực sinh động, tỏa sáng trên bản đồ nhân loại. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chỉ rõ: "Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước"(2).

Chú thích

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, tr.99.

(2) Toàn văn Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị khoá XIII về phát triển văn hoá Việt Nam.

Đại tá, Ths Tô Xuân Mã

Viện KHXH&NVQS, Học viện Chính trị