1. Đặt vấn đề
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với khát vọng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ các nguồn lực nội sinh, trong đó văn hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa còn là động lực thúc đẩy phát triển, là một phần nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm để góp phần định hình bản sắc và sức mạnh của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.
Từ góc độ lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, phản ánh tồn tại xã hội, đồng thời có tác động trở lại mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa gắn liền với con người, với sự phát triển toàn diện của cá nhân và cộng đồng, từ đó tạo nên động lực cho tiến bộ xã hội. Kế thừa và phát triển quan điểm đó, Đảng ta ngày càng nhấn mạnh vai trò của văn hóa, phát triển tư duy từ xác định "văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị" [1] nay trở thành "văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị" [2] và trở thành nòng cốt của sức mạnh nội sinh trong chiến lược phát triển đất nước.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng số đã làm thay đổi sâu sắc phương thức sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Văn hóa không còn chỉ tồn tại trong không gian truyền thống mà đã trở thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế cao, hình thành nên các ngành công nghiệp văn hóa với khả năng tạo ra sức ảnh hưởng rộng lớn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển văn hóa, chuyển từ cách tiếp cận hành chính, bao cấp sang tư duy kinh tế sáng tạo, coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực trực tiếp của tăng trưởng, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Sự chuyển đổi tư duy của Đảng về văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của văn hóa không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Lĩnh vực văn hóa đã được Đảng ta coi trọng rất sớm, chú trọng ban hành nhiều Nghị quyết định hướng lớn như: Đề cương văn hóa năm 1943 xác định: "Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động" [3] và ba nguyên tắc tiến hành hoạt động văn hóa là: "Dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa". Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc xác định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội" [4]. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín BCHTW Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu của phát triển bền vững đất nước xác định: "Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội".
Chính những đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc của cả Hệ thống chính trị, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ; lĩnh vực văn hóa đã đạt được những thành tựu nhất định. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: "Phát triển văn hóa, xã hội và con người có nhiều mặt tiến bộ. Nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa được nâng lên rõ rệt và lan tỏa trong xã hội…giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát huy; văn hóa trong chính trị, kinh tế được coi trọng hơn" [5].
Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam vẫn còn hạn chế, bất cập và gặp không ít khó khăn, thách thức. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa chưa toàn diện và sâu sắc. Đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải, nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Việc phát triển văn hóa cần phải có những "tư duy mới", "đột phá mới" nhằm bảo đảm văn hóa không chỉ là giữ gìn, bảo tồn, chấn hưng đất nước, "hồn cốt của dân tộc" mà còn là sức mạnh mềm, một nguồn lực kinh tế đất nước, sức mạnh đối ngoại; bảo đảm "Xây dựng và phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước" [6].
Thực tiễn cho thấy, nếu như trong những giai đoạn trước, văn hóa chủ yếu được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của phát triển, thì đến giai đoạn hiện nay, Đảng đã có bước phát triển mới về tư duy, tầm nhìn chiến lược về văn hóa được thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa khi nhấn mạnh yêu cầu đặt văn hóa phải "ngang tầm" với kinh tế, chính trị. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về mặt diễn đạt câu chữ, mà là sự chuyển biến về chất trong nhận thức lý luận và định hướng thực tiễn.
Trước hết, cần thấy rằng, khái niệm "ngang hàng" trước đây chủ yếu phản ánh vị trí của văn hóa trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Còn hiện nay, sử dụng thuật ngữ "ngang tầm" để biểu hiện nội hàm sâu sắc hơn, thể hiện yêu cầu về tầm vóc, chiều sâu và mức độ tác động thực tế của văn hóa trong toàn bộ tiến trình phát triển đất nước. Nếu "ngang hàng" là sự khẳng định về vị thế, thì "ngang tầm" là sự đòi hỏi về chất lượng, hiệu quả, sức ảnh hưởng thực tiễn của văn hóa đồng thời bảo đảm văn hóa là ngành kinh tế mũi nhọn cho phát triển đất nước.
Sự phát triển tư duy này trước hết thể hiện ở việc nâng văn hóa lên tầm chiến lược, coi văn hóa là một trụ cột cấu thành mô hình phát triển bền vững. Văn hóa không còn đứng bên cạnh hay hỗ trợ cho kinh tế và chính trị, mà phải tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định và thực thi các chiến lược phát triển quốc gia. Điều đó đồng nghĩa với việc phát triển đất nước không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế hay ổn định chính trị, mà phải dựa vào sự phát triển đồng bộ của văn hóa, là yếu tố tạo nên bản sắc, định hướng giá trị và củng cố nền tảng tinh thần của xã hội.
Bên cạnh đó, "ngang tầm" còn thể hiện ở tầm tác động của văn hóa đối với đời sống xã hội. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, Đảng ta ngày càng nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của văn hóa trong việc định hướng và điều chỉnh sự phát triển. Văn hóa không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần định hình chuẩn mực, điều chỉnh hành vi và nâng cao chất lượng phát triển. Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng thiếu nền tảng văn hóa vững chắc sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro; ngược lại, văn hóa phát triển lành mạnh sẽ tạo ra nguồn lực con người, đạo đức xã hội và sự đồng thuận là những yếu tố quyết định cho phát triển bền vững.
Đặc biệt, điểm nổi bật trong tư duy "ngang tầm" là việc nhìn nhận văn hóa ở tầm nguồn lực phát triển, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa không chỉ dừng lại ở giá trị tinh thần mà đã trở thành một nguồn lực kinh tế trực tiếp thông qua sự hình thành và phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Việc chuyển hóa các giá trị di sản, bản sắc và sáng tạo văn hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao chính là biểu hiện sinh động của tư duy mới này. Qua đó, văn hóa góp phần tạo dựng sức mạnh mềm, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Sự đổi mới tư duy từ "ngang hàng" sang "ngang tầm" phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hóa: từ chỗ coi văn hóa là nền tảng tinh thần, đến chỗ xác định văn hóa là trụ cột chiến lược, là nguồn lực nội sinh và là sức mạnh mềm có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
2.2. Phát triển công nghiệp văn hóa, trụ cột mới của nền kinh tế xanh
Trong bối cảnh phát triển mới, khi mô hình tăng trưởng truyền thống dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ dần bộc lộ những hạn chế, yêu cầu chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo và phát triển bền vững trở thành xu thế tất yếu. Trong tiến trình đó, công nghiệp văn hóa nổi lên như một lĩnh vực đặc thù, không chỉ tạo ra giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc, thúc đẩy phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Thực tiễn công nghiệp văn hóa được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới và đem lại lợi ích tăng trưởng kinh tế phát triển mạnh mẽ. "Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao (DCMS) của nước Anh, các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn đóng góp, tổng giá trị gia tăng (GVA) là 5,9% cho nền kinh tế năm 2019. Trên quy mô toàn cầu, ngành này đóng góp 750 tỷ Đô la trong năm 2020 (UNESCO)…Tại Pháp, giá trị gia tăng cho các ngành công nghiệp văn hóa chiếm 2,6% thị phần toàn ngành, so với mức trung bình của châu Âu là 2,3%. Pháp đứng thứ ba ở châu Âu, sau Anh (3,2%) và Ba Lan (2,7%)... Ở nước Ý ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 84,6 tỷ Euro năm 2020" [7].

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa thể hiện rõ bước phát triển đột phá trong tư duy về văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng. Nghị quyết xác định: "Phát triển văn hóa, con người là nền tảng nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước" [8]. Đây là lần đầu tiên, văn hóa được xác định là một "hệ điều tiết" quan trọng, góp phần định hướng và bảo đảm cho sự phát triển nhanh đi đôi với bền vững. Điều này cho thấy văn hóa không chỉ đóng vai trò nền tảng tinh thần mà còn tham gia trực tiếp vào việc điều chỉnh các quan hệ phát triển, hạn chế những tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế thuần túy.
Đặc biệt, Nghị quyết đã nhấn mạnh việc nhìn nhận văn hóa như một "tài nguyên" và "sức mạnh mềm" của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đây là sự chuyển biến mang tính chiến lược, khi văn hóa không còn chỉ là giá trị tinh thần mà trở thành nguồn lực có thể khai thác, chuyển hóa thành lợi ích kinh tế và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở đó, Đảng ta khẳng định cần đổi mới căn bản tư duy về đầu tư cho văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho phát triển bền vững, từ đó huy động đa dạng các nguồn lực xã hội cho lĩnh vực này.
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết 80 là: "Phát triển các ngàng công nghiệp văn hóa đóng góp 7%; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực như: Điện ảnh, nghệt thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang….Định hướng tầm nhìn đến năm 2045 công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8-10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh và phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa". Những con số này không chỉ mang ý nghĩa định lượng mà còn thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong việc đưa công nghiệp văn hóa trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, ít phát thải, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh.
Tiếp tục phát triển và nâng tầm những quan điểm đó, Đại hội XIV của Đảng đã đặt công nghiệp văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước trong "kỷ nguyên vươn mình" của dân tộc. Văn kiện khẳng định: "Xây dưng, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước". Trong đó, công nghiệp văn hóa chính là hình thức cụ thể để hiện thực hóa việc chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển.
Bên cạnh đó, tư duy quản lý văn hóa cũng có bước chuyển quan trọng, từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị kiến tạo phát triển, lấy người dân làm trung tâm và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sáng tạo văn hóa phát triển, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và mở rộng thị trường công nghiệp văn hóa. Cùng với đó là chủ trương chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa nhân loại và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, qua đó nâng cao vị thế quốc gia trong cạnh tranh toàn cầu.
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp văn hóa Đảng ta cũng chỉ ra những thách thức. Nếu quá nhấn mạnh yếu tố thị trường, văn hóa có nguy cơ bị thương mại hóa, làm suy giảm bản sắc dân tộc. Do đó, cần giải quyết và xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa: (1) Giữa "xây" và "chống"; (2) Giữa truyền thống và hiện đại; (3) Giữa dân tộc và quốc tế; (4) Giữa bảo tồn và phát triển; (5) Giữa đại chúng và bác học; (6) Giữa đời sống thực và không gian số; (7) Giữa dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.
2.3. Các giải pháp phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế tạo hành lang pháp lý đột phá cho công nghiệp văn hóa phát triển.
Trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa, thể chế luôn giữ vai trò "đi trước mở đường", là yếu tố quyết định khả năng huy động nguồn lực và giải phóng sức sáng tạo của xã hội. Đảng ta khẳng định: "Thể chế là "điểm nghẽn của điểm nghẽn" nhưng cũng là "đột phá của đột phá". Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới". Thực tiễn hiện nay cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp văn hóa Việt Nam là hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Do đó, việc hoàn thiện thể chế theo tinh thần kiến tạo phát triển là yêu cầu cấp thiết.
Trước hết, cần tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến lĩnh vực văn hóa như nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, bản quyền tác giả, di sản văn hóa… theo hướng vừa bảo đảm quản lý nhà nước hiệu quả, vừa tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho sáng tạo và kinh doanh văn hóa phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế số, cần hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền trên môi trường số nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể sáng tạo.
Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù với ưu đãi vượt trội về thuế, đất đai, tín dụng nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Nghị quyết nhấn mạnh việc đổi mới tư duy đầu tư, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, do đó cần thể chế hóa quan điểm này thành các chính sách cụ thể, khả thi và có tính khuyến khích cao.
Đồng thời, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao trách nhiệm giải trình, chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị kiến tạo phát triển. Nhà nước không chỉ đóng vai trò quản lý mà còn là chủ thể hỗ trợ, điều tiết và thúc đẩy sáng tạo, lấy hiệu quả kinh tế xã hội và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Việc xây dựng một môi trường thể chế thông thoáng, minh bạch và ổn định sẽ là tiền đề quan trọng để công nghiệp văn hóa "tăng tốc" và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain) cần được đẩy mạnh trong toàn bộ chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa. Những công nghệ này không chỉ giúp tối ưu hóa quá trình sáng tạo và phân phối nội dung mà còn góp phần bảo vệ bản quyền, nâng cao trải nghiệm người dùng và mở rộng thị trường. Đặc biệt, cần triển khai chương trình số hóa di sản văn hóa một cách toàn diện, hướng tới mục tiêu số hóa 100% di sản cấp quốc gia theo nghị quyết chỉ ra. Việc số hóa không chỉ giúp bảo tồn di sản một cách hiệu quả mà còn tạo điều kiện để khai thác giá trị kinh tế thông qua các mô hình như bảo tàng ảo, du lịch thực tế ảo, trải nghiệm số. Đây chính là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xanh, khi vừa bảo vệ tài nguyên văn hóa, vừa tạo ra giá trị gia tăng bền vững.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng và triển khai chiến lược quảng bá và xuất khẩu văn hóa một cách bài bản. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: "Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện"[10].Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa không chỉ là yếu tố nội tại mà còn là công cụ quan trọng để nâng cao vị thế quốc gia. Việc đưa các sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần lan tỏa bản sắc dân tộc, nâng cao chỉ số sức mạnh mềm. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc chuyển hóa văn hóa thành lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Thứ tư, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực sáng tạo chất lượng cao.
Nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ, giàu tiềm năng sáng tạo, nhưng vẫn còn hạn chế về kỹ năng chuyên môn, năng lực công nghệ và khả năng hội nhập quốc tế. Do đó, việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ mang tính lâu dài và cấp thiết. Trước hết, cần có chính sách đặc thù nhằm thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với các nghệ nhân, nghệ sĩ, chuyên gia sáng tạo và đội ngũ quản lý văn hóa. Việc tôn vinh và bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là yếu tố động viên mà còn góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật theo hướng hiện đại, hội nhập và liên ngành. Việc tích hợp khoa học, công nghệ và nghệ thuật trong đào tạo sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực có tư duy sáng tạo, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường toàn cầu. Phấn đấu 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và phát triển nhân lực, tạo điều kiện để đội ngũ sáng tạo văn hóa Việt Nam tiếp cận với tri thức và công nghệ tiên tiến của thế giới. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Thứ năm, huy động nguồn lực xã hội hóa và phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công.
Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi nguồn lực lớn và đa dạng, trong khi nguồn lực nhà nước còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa có ý nghĩa quyết định trong việc tạo lập hệ sinh thái phát triển bền vững. Cần xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, đặc biệt thông qua các hình thức hợp tác kết hợp đầu tư công và tư nhân. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định bảo đảm bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Cùng với đó, các doanh nghiệp cần được tạo điều kiện thuận lợi để tham gia đầu tư vào các thiết chế văn hóa, bảo tồn và khai thác di sản gắn với phát triển kinh tế. Đồng thời, cần khuyến khích hình thành các quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật, điện ảnh từ nguồn lực xã hội, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho các ý tưởng sáng tạo được phát triển.
Mặt khác, Nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt thông qua việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các lĩnh vực then chốt, tạo "cú hích" ban đầu để thu hút các nguồn lực xã hội. Việc bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý và sử dụng nguồn lực sẽ góp phần tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và toàn xã hội. Như vậy, việc kết hợp hài hòa giữa nguồn lực nhà nước và xã hội, giữa đầu tư công và tư nhân sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh, sáng tạo và bền vững trong kỷ nguyên mới.
3. Kết luận
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình với khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là một định hướng phát triển kinh tế đơn thuần, mà còn là một nhiệm vụ chiến lược mang ý nghĩa chấn hưng và phát triển văn hóa dân tộc trong thời đại mới. Đây là sự kết tinh của quá trình đổi mới tư duy của Đảng, khi văn hóa được đặt ở "tầm" mới, vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh, vừa là động lực trực tiếp của tăng trưởng và phát triển bền vững.
Công nghiệp văn hóa chính là cầu nối quan trọng để chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống, di sản và tinh hoa dân tộc thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Phát triển công nghiệp văn hóa chính là động lực đột phá để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, đồng thời khẳng định bản sắc và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại mới. Với tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và việc triển khai đồng bộ các giải pháp, công nghiệp văn hóa sẽ không chỉ góp phần "chấn hưng văn hóa" dân tộc mà còn trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển ổn định, đưa đất nước tiến vững, tiến chắc vào kỷ nguyên vươn mình trong thế kỷ XXI.
Nguyễn Phú Thành
Giảng viên, Trường Sĩ quan Lục quân 1
Chú thích:
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 52, tr. 513.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.2.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.2.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 57, tr. 303.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 305-306.
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.2.
[7]. Nguyễn Thị Ngọc (2023), Công nghiệp văn hóa ở một số quốc gia Châu Âu và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.198, 316, 381.
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.2.
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.4-5.
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, tr.4.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 7.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 52.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập I.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập II.
6. Nguyễn Thị Ngọc (2023), Công nghiệp văn hóa ở một số quốc gia Châu Âu và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.