Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1965 - 1968, giá trị và sự vận dụng trong tình hình mới

Thứ hai, 08/06/2026 - 10:36

Tóm tắt: Giai đoạn 1965 - 1968 là thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra vô cùng ác liệt khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh và quân đồng minh trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Trong bối cảnh đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, ý chí quyết chiến quyết thắng, tăng cường đoàn kết nội bộ và phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân. Những giá trị được hình thành trong giai đoạn này vẫn giữ nguyên ý nghĩa đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay. Bài viết phân tích những giá trị nổi bật và sự vận dụng trong tình hình mới nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại" [1]. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ được tạo nên bởi nghệ thuật quân sự độc đáo mà trước hết bắt nguồn từ nền tảng chính trị vững chắc, từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Giai đoạn 1965 - 1968 là một trong những thời kỳ thử thách khốc liệt nhất của cách mạng Việt Nam. Việc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc đã tạo nên tương quan lực lượng rất chênh lệch về tiềm lực kinh tế, quân sự và kỹ thuật. Trong điều kiện đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nên sức mạnh tinh thần để quân và dân ta đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Những kinh nghiệm và giá trị của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn này vẫn có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng quân đội trong thời kỳ mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu

Năm 1965, đế quốc Mỹ chính thức triển khai chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đưa hàng chục vạn quân viễn chinh và quân đồng minh trực tiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Đây là lực lượng quân sự hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ với ưu thế vượt trội về vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh. Trước tình hình đó, trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ đã xuất hiện tâm lý lo ngại trước sức mạnh quân sự của Mỹ; có người chưa thật sự tin tưởng vào khả năng đánh thắng quân xâm lược. Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa III (tháng 12-1965) chỉ rõ nhiệm vụ: "Trước hết, cần giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân ta nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang của nhân dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng ta, với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, với chiến tranh nhân dân của ta được phát triển đến cao độ, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ" [2]. Thực hiện chủ trương của Đảng, quân đội đã đẩy mạnh giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; làm rõ bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ và khẳng định tính tất yếu thắng lợi của cuộc chiến tranh chính nghĩa. Các phong trào thi đua quyết thắng, các đợt sinh hoạt chính trị, học tập nghị quyết được triển khai sâu rộng trong toàn quân. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ ngày càng nhận thức rõ hơn về mục tiêu chiến đấu, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và khả năng chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Chính nền tảng chính trị vững chắc ấy đã góp phần quan trọng tạo nên những thắng lợi lớn trên chiến trường, đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.

Hiện nay, mặc dù đất nước hòa bình, không phải đối mặt với chiến tranh xâm lược trực tiếp như giai đoạn 1965 - 1968, nhưng nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị vẫn đặt ra những yêu cầu hết sức cấp thiết. Nếu như trước đây, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chịu tác động bởi tâm lý lo ngại trước sức mạnh quân sự vượt trội của đế quốc Mỹ thì hiện nay, những tác động đến nhận thức, tư tưởng của quân nhân lại đến từ sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch trên không gian mạng, mặt trái của cơ chế thị trường, xu hướng thực dụng, cá nhân chủ nghĩa và những thông tin đa chiều, phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, các cuộc xung đột quân sự diễn ra liên tiếp trên thế giới thời gian gần đây, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin và chiến tranh không gian mạng đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tâm lý xã hội nói chung và cán bộ, chiến sĩ quân đội nói riêng. Thực tiễn đó đòi hỏi phải tiếp tục vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của giai đoạn 1965 - 1968, trong đó đặc biệt coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị kiên định, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; giữ vững niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vào đường lối quốc phòng toàn dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đồng thời, cần làm cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc rằng, dù hình thái chiến tranh có nhiều thay đổi, nhưng yếu tố chính trị - tinh thần vẫn là nhân tố quyết định đến chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chỉ khi có bản lĩnh chính trị vững vàng, cán bộ, chiến sĩ mới đủ khả năng nhận diện đúng tình hình, không hoang mang dao động trước các biến động quốc tế, không bị tác động bởi các quan điểm sai trái, thù địch, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

2.2. Tạo động lực tinh thần to lớn, giúp cán bộ, chiến sĩ kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1965 - 1968 diễn ra trong điều kiện vô cùng khốc liệt. Nhiều đơn vị phải chiến đấu liên tục dưới mưa bom bão đạn, chịu tổn thất lớn về người và phương tiện. Trong hoàn cảnh đó, nếu không có ý chí chính trị vững vàng thì rất khó duy trì sức chiến đấu lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" [3]. Tinh thần đó trở thành nội dung xuyên suốt trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của quân đội. Các hoạt động giáo dục đã giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc ý nghĩa của cuộc kháng chiến, từ đó chuyển hóa thành động lực tinh thần mạnh mẽ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cho thấy, nhiều đơn vị dù chiến đấu trong điều kiện cực kỳ khó khăn vẫn giữ vững quyết tâm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh với niềm tin sắt son vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Trong bối cảnh hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Nếu như giai đoạn 1965 - 1968, cán bộ, chiến sĩ phải đối mặt với bom đạn, sự hy sinh và những thử thách khắc nghiệt trên chiến trường thì hiện nay, những khó khăn, thách thức lại chủ yếu xuất hiện trên lĩnh vực tư tưởng, nhận thức và tâm lý. Mặt trái của kinh tế thị trường, xu hướng đề cao lợi ích cá nhân, lối sống thực dụng, sự tác động của thông tin đa chiều trên mạng xã hội cùng những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đang từng ngày, từng giờ ảnh hưởng đến nhận thức, tình cảm và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Trong điều kiện đó, việc vận dụng bài học giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 - 1968 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức trách nhiệm cao và tinh thần cống hiến cho cán bộ, quân nhân. Thực tiễn các cuộc xung đột quân sự đang diễn ra trên thế giới cho thấy, dù vũ khí, trang bị và phương thức tác chiến không ngừng hiện đại hóa, nhưng nhân tố chính trị - tinh thần vẫn giữ vai trò quyết định đối với khả năng chiến đấu và chiến thắng của quân đội. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần tiếp tục làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội cách mạng; hiểu rõ trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới; xây dựng niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh quốc phòng toàn dân và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phải khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ, kể cả những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ ở biên giới, biển đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trong các nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn.

2.3. Tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn quân và củng cố mối quan hệ máu thịt quân - dân

Một trong những thành công nổi bật của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 - 1968 là xây dựng được sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn quân và giữa quân đội với nhân dân. Giáo dục chính trị không chỉ hướng tới nâng cao nhận thức về nhiệm vụ chiến đấu mà còn giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết nội bộ và ý thức gắn bó với nhân dân. Nhờ đó, quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, phát huy truyền thống "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu". Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong. Thực tiễn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chứng minh chính mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa quân đội và nhân dân là nhân tố quan trọng tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, góp phần đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Hiện nay, trong điều kiện các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tìm cách chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, giữa quân đội với Nhân dân, việc phát huy bài học về tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn quân và củng cố mối quan hệ máu thịt quân - dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu như trong kháng chiến chống Mỹ, mối quan hệ gắn bó quân - dân là cơ sở để xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, huy động sức người, sức của cho tiền tuyến, thì trong giai đoạn hiện nay, đó chính là nền tảng để xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tạo nguồn sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Việc vận dụng kinh nghiệm giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 - 1968 đòi hỏi phải thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc bản chất, truyền thống và chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam; thấm nhuần quan điểm quân đội ta là quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Qua đó, xây dựng ý thức tôn trọng, gắn bó, gần gũi và hết lòng phục vụ nhân dân; coi việc bảo vệ tính mạng, tài sản và lợi ích của nhân dân vừa là trách nhiệm chính trị, vừa là mệnh lệnh từ trái tim của người quân nhân cách mạng. Đây cũng là cơ sở quan trọng để mỗi cán bộ, chiến sĩ tự giác tu dưỡng phẩm chất đạo đức, giữ gìn hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân.

Trong thực tiễn hiện nay, giá trị đó được thể hiện sinh động thông qua vai trò của quân đội trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới, giúp nhân dân phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng nhường doanh trại làm khu cách ly, không quản khó khăn, gian khổ để hỗ trợ nhân dân đã tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng và truyền thống gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân. Đây không chỉ là hoạt động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội. Mặt khác, trong điều kiện bùng nổ thông tin và phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng những vụ việc tiêu cực cá biệt để xuyên tạc bản chất, hạ thấp uy tín của quân đội, kích động tâm lý hoài nghi và chia rẽ mối quan hệ quân - dân. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần tiếp tục bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; đồng thời nâng cao trách nhiệm nêu gương, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước và quy định trong quan hệ với nhân dân. Thực tiễn cho thấy, khi quân đội thực sự dựa vào nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân và được nhân dân tin yêu, ủng hộ thì đó chính là nguồn sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, là nhân tố quyết định để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

2.4. Nâng cao khả năng "miễn dịch" trước các tác động tiêu cực và âm mưu chống phá trên mặt trận tư tưởng

Trong những năm 1965 - 1968, đế quốc Mỹ triển khai nhiều hoạt động chiến tranh tâm lý nhằm làm suy giảm ý chí chiến đấu của quân và dân Việt Nam. Các hình thức tuyên truyền, chiêu hồi, tung tin thất thiệt được sử dụng với quy mô lớn. Thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quân đội đã kịp thời đấu tranh với các biểu hiện dao động, hoang mang; nâng cao khả năng nhận diện và phản bác các luận điệu tuyên truyền của đối phương. Đây là nhân tố quan trọng giúp cán bộ, chiến sĩ giữ vững niềm tin và quyết tâm chiến đấu trong những thời điểm khó khăn nhất.

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, internet, mạng xã hội, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc môi trường thông tin và phương thức tác động đến nhận thức của con người. Nếu như trong giai đoạn 1965 - 1968, các hoạt động chiến tranh tâm lý của đế quốc Mỹ chủ yếu được tiến hành thông qua truyền đơn, phát thanh, báo chí, các chương trình chiêu hồi và những thủ đoạn tuyên truyền trực tiếp trên chiến trường thì ngày nay, các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng như một "mặt trận không tiếng súng" để tiến hành chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức với quy mô rộng lớn, tốc độ lan truyền nhanh và mức độ tác động sâu sắc hơn nhiều. Chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội, các nền tảng số, công nghệ trí tuệ nhân tạo để sản xuất, phát tán thông tin giả, thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kích động tư tưởng hoài nghi, dao động, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh đó, việc vận dụng kinh nghiệm giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 - 1968 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ một "hệ miễn dịch tư tưởng" vững chắc. Nếu như trước đây công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giúp bộ đội nhận rõ bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ, không bị tác động bởi những luận điệu tuyên truyền tâm lý chiến, thì hiện nay cần tập trung nâng cao năng lực nhận diện, phân tích, kiểm chứng và đánh giá thông tin; giúp cán bộ, chiến sĩ phân biệt rõ đúng - sai, thật - giả, không bị chi phối bởi các luồng thông tin độc hại trên không gian mạng. Đây không chỉ là yêu cầu về nhận thức chính trị mà còn là yêu cầu về năng lực tư duy, bản lĩnh và trách nhiệm của người quân nhân trong thời đại số. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, chủ quyền biển đảo, phòng chống tham nhũng, các vụ việc tiêu cực cá biệt hoặc những khó khăn trong quá trình phát triển đất nước để xuyên tạc đường lối của Đảng, kích động tâm lý bất mãn và thúc đẩy âm mưu "phi chính trị hóa quân đội". Mục tiêu sâu xa của chúng là từng bước làm phai nhạt bản chất giai cấp công nhân của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, từ đó làm suy yếu sức mạnh chính trị của lực lượng vũ trang. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng hiện nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức lý luận mà phải trực tiếp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ khả năng "tự bảo vệ" trước các tác động tiêu cực và chủ động tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đồng thời, cần gắn giáo dục chính trị, tư tưởng với giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử trên không gian mạng; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", trong đó lấy "xây" làm cơ bản, lâu dài, "chống" phải kiên quyết, kịp thời và hiệu quả. Thông qua đó, hình thành ở mỗi cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nhạy bén chính trị và khả năng đề kháng trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá về tư tưởng, văn hóa.

3. Kết luận

Thực tiễn giai đoạn 1965 - 1968 khẳng định công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tạo động lực tinh thần to lớn, tăng cường đoàn kết quân - dân, nâng cao khả năng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và bảo đảm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động khó lường, các cuộc xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và chiến tranh thông tin diễn ra ngày càng gay gắt, những giá trị của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giai đoạn 1965 - 1968 vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự. Việc kế thừa và phát huy những giá trị đó là yêu cầu khách quan nhằm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ths Lê Trung Thành

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


Tài liệu tham khảo

[1] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.217.

[2] Văn kiện Đảng Toàn tập (2003), tập 26, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.647.

[3] Hồ Chí Minh Toàn tập (2011), tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.131.