Đặc điểm truyện ngụ ngôn trong Trang Tử Nam Hoa kinh

Thứ tư, 24/06/2026 - 08:39

Để có thể từng bước tiếp cận Trang Tử Nam Hoa kinh, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đi sâu khai thác về tư tưởng triết học của Trang Tử, cũng không khảo sát hết các đặc điểm nghệ thuật sáng tác của ông mà chỉ tập trung tìm hiểu một đặc điểm nổi bật trong phương diện văn học của tác phẩm, đó chính là nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn.

    I. Một số vấn đề khái quát:

Những ghi chép đầu tiên về Trang Tử được tìm thấy trong Sử kí của Tư Mã Thiên. Theo Tư Mã Thiên thì Trang Tử ( 360 – 280 BC) là người nước Lương, sống dưới thời vua Lương Huệ Vương, đã từng được Sở Uy Vương mời ra làm quan, nhưng ông từ chối, chỉ để lại một bộ sách gồm 33 chương, chia làm ba phần là nội thiên, ngoại thiên và tạp thiên. Trong đó, bảy chương của nội thiên ( 1. Tiêu dao du; 2. Tề vật luận; 3. Dưỡng sinh chủ, 4. Nhân gian thế; 5. Đức sung phù; 6. Đại tông sư; 7. Ứng đế vương ) là đáng tin cậy nhất.

Kim Thánh Thán, một nhà phê bình văn học theo chủ nghĩa ấn tượng đời Minh, là người đánh giá rất cao bộ Trang Tử Nam Hoa Kinh. Ông cho rằng, Trung Hoa có sáu bộ sách hay nhất ( lục tài tử thư) đó là: 1. Nam Hoa Kinh của Trang Tử; 2. Li Tao của Khuất Nguyên; 3. Sử kí của Tư Mã Thiên; 4. Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung; 5. Thủy Hử của Thi Nại Am, và 6. Tây Sương Kí của Vương Thực Phủ. Và không chỉ riêng Kim Thánh Thán, đa số các nhà phê bình khác cũng thừa nhận giá trị của Trang Tử Nam Hoa kinh. Đồng thời Trang Tử Nam Hoa kinh cũng là một bộ sách được liệt vào danh mục những bộ sách khó đọc nhất từ cổ đến kim. Lâm Tây Trọng, một nhà văn đời Thanh, tác giả của Văn học trích tuyển đã nhận xét: "Các nhà viết văn xưa nay có ai là người chẳng đọc Trang? Đã đọc Trang, có ai chẳng khen là lạ lùng, tuyệt diệu? Tôi trộm nghĩ, kẻ đọc Trang, thực chưa ai đọc nổi Trang, mà kẻ khen Trang, cũng chưa ai khen được đúng những chỗ lạ lùng tuyệt diệu đâu."

Theo chúng tôi, Trang Tử Nam Hoa kinh sở dĩ khó đọc vì trước hết nó là một tác phẩm triết học và tư tưởng triết học trong Trang Tử Nam Hoa kinh lại hết sức phức tạp. Đại khái có thể nói, Trang Tử quý sinh. Vì ông sống trong thời loạn, mà hầu hết các cuộc chiến tranh giành quyền lực của các thế lực quân phiệt dưới chế độ phong kiến phân quyền trong thời của ông đều là những cuộc nội chiến vô nghĩa, nên ông có xu hướng ẩn dật để "sống hết tuổi trời" Thế nhưng, ông cũng không phải là người có tham vọng trường sinh bất tử như Tần Thủy Hoàng sau này. Nói đúng hơn, ông xem sống và chết ngang nhau ( Tề vật luận ), đều phải thuận theo tự nhiên. Và theo ông, chỉ khi đó thì con người mới có thể "sống thì vui với sự sống, chết thì vui với sự chết"

Mặt khác, như ta đã biết, khái niệm văn trong văn học Trung Quốc thời tiên Tần là một khái niệm rất rộng, được hiểu trong mối liên hệ tổng thể với các lĩnh vực khác đúng như N. I. Konrad đã nhận định: "Sau gần bốn nghìn năm lịch sử , nhân dân Trung Quốc đã sáng tạo nên một số lượng khổng lồ các thư tịch văn chương hết sức khác nhau. Dường như rất dễ phân loại đối với cái đại khối này: một số xếp vào lịch sử, số khác vào triết học, số thứ ba – vào khoa học, số thứ tư – vào nghị luận, số thứ năm vào văn học, mang tính nghệ thuật… Nhưng trong thực tế mọi chuyện đâu cò đơn giản như thế, đặc biệt là ở những giai đoạn đầu của sự phát triển văn học: như đã được chỉ ra ở trên, trong văn học thời cổ đại, tiến hành một sự phân loại như vậy là rất khó, mà với nhiều thư tịch thì việc xác định tính quy chuẩn vào lĩnh vực nào đó nói chung là điều không thể làm được." Được sáng tác vào bối cảnh văn học của thời kì văn- sử -triết bất phân như vậy, Trang Tử Nam Hoa kinh, có thể nói vừa là một tác phẩm triết học, đồng thời, cũng vừa là một tác phẩm văn học.

Về phương diện văn học, Trang Tử Nam Hoa kinh cũng vẫn là một tác phẩm khó đọc, vì kết cấu của nó hết sức tự do, phóng túng, đột ngột, biến hóa. Ví dụ phần mở đầu, tác giả đột ngột nói ngay chuyện cá Côn, chim Bằng, đang nói về cá Côn, chim Bằng, ông lại bất ngờ chuyển sang nói về ngựa hoang, nói về bụi bặm, rồi lại nói về màu xanh của trời ( Dã mã dã, trần ai dã, sinh vật chi dĩ tức tương xuy dã. Thiên chi thương thương, kì chính sắc dã? )

Để có thể từng bước tiếp cận Trang Tử Nam Hoa kinh, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đi sâu khai thác về tư tưởng triết học của Trang Tử, cũng không khảo sát hết các đặc điểm nghệ thuật sáng tác của ông mà chỉ tập trung tìm hiểu một đặc điểm nổi bật trong phương diện văn học của tác phẩm, đó chính là nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn. Và những câu chuyện ngụ ngôn ở đây được trích ra từ trong mạch văn của tác giả, chứ trong nguyên tác chúng không phải là những mẫu chuyện riêng biệt, không có phần đúc kết bài học triết lí, nhiều khi chỉ là do tác giả, hoặc nhân vật thuận theo mạch ý lời văn mà kể ra, nên chúng tôi phải phải tự đặt tên và ghi rõ xuất xứ từ chương nào, phần nào trong Trang Tử Nam Hoa kinh. Về bản dịch, chúng tôi chủ yếu sử dụng bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, có đối chiếu với bản dịch của Nhượng Tống.

    II. Phân tích một số đặc điểm nổi bật của truyện ngụ ngôn trong Trang Tử Nam Hoa kinh:

Theo giáo trình Văn học thế giới do GS Lưu Đức Trung chủ biên, thì ngụ ngôn được hiểu là : "hình thức tự sự được viết bằng văn xuôi (prose) hoặc văn vần (Verse), thuộc thể loại truyện ngắn, ra đời ở thời cổ đại, thường sử dụng loài vật làm nhân vật, thông qua cách cư xử và nói năng của chúng để ám chỉ đến những thói hư tật xấu của con người. Cảm hứng sáng tạo của ngụ ngôn là mỉa mai, châm biếm. Ngụ ngôn luôn đề xuất một bài học đạo đức, một triết lí hoặc một kinh nghiệm sống nào đó, được lồng rất khéo vào câu chuyện hoặc đúc kết thành nguyên lí ở cuối truyện ( … ) Ngoài loài vật, nhân vật của ngụ ngôn còn rất phong phú, đa dạng: từ người đến thần linh, ma quỷ, từ cây cối đến gỗ đá; từ bộ phận thuộc cơ thể con người đến loài côn trùng nhỏ. "Tóm lại, truyện ngụ ngôn là vở kịch nhỏ trong đó nhân vật có thể là bất cừ vật gì trong vũ trụ và sân khấu là ở bất cứ đâu" Trong Trang Tử Nam Hoa kinh, ta thấy, khái niệm ngụ ngôn được hiểu trong sự gắn bó mật thiết với khái niệm trọng ngôn và chi ngôn: "Ngụ là ở, là gởi. Chẳng những đặt ra một truyện để gởi vào đó một ý, là ngụ ngôn; mà mượn lời người khác nói thay cho mình ( như cha mẹ nhờ bà mối hỏi vợ cho con) cũng là ngụ ngôn. Trọng ngôn là những lời mà thiên hạ cho là đáng tin, đáng trọng như khi dẫn lời của Khổng Tử, Lão Tử, Hoàng Đế, Nhan Hồi…thì những lời đó là trọng ngôn. Chi ngôn – chi là một thứ chén hễ đầy nước thì lật đổ, không có nước thì đứng lại ngay. Những lời thích hợp với những hoàn cảnh thay đổi mỗi ngày thì gọi là chi ngôn." Như vậy, xét theo nghĩa rộng, trong Trang Tử Nam Hoa kinh, ngụ ngôn không nhất thiết phải có cốt truyện. Ở đây, chỉ cần có đối thoại giữa các nhân vật nhằm gởi gắm ý một nghĩa triết lý nào đó, là có ngụ ngôn. Khi những đoạn đối thoại đó là của các nhân vật nổi tiếng, thì nó thành trọng ngôn. Nhưng nếu xét theo nghĩa hẹp, thì ngụ ngôn trong Trang Tử Nam Hoa kinh, bất kể nhân vật là ai hay là gì, trước hết nó phải là một câu chuyện hoàn chỉnh, nghĩa là có diễn biến của các tình tiết. Và dù xét theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, đã là ngụ ngôn, phải có ngụ ý.

Thông thường, tính chất có ngụ ý này của truyện ngụ ngôn được chú trọng đến mức đôi khi những chi tiết thuộc về sự vật khách quan chỉ mang tính minh họa, và thường được diễn tả một cách hết sức sơ lược. Trong sáng tác của Trang Tử thì khác. Bằng vào việc quan sát sự vật xung quanh một cách tỉ mỉ và nghiêm túc, ông rất chú ý kết hợp kể chuyện với tả thực trong từng chi tiết nhỏ, dù đó chỉ là truyện ngụ ngôn. Ví dụ đoạn miêu tả gió trong truyện Nam Quách Tử Kì, chương 2, Tề Vật luận, nội thiên, có thể xem là một đoạn văn tả thực rất sinh động, rất chi li, được đan cài vào trong một câu chuyện ngụ ngôn: " Đất thở thì thành gió, gió không thổi thì thôi, đã thổi thì cả vạn hang lỗ đều gào thét lên ( … )Trên rừng núi cao ghê gớm có những cây chu vi được cả trăm gang tay, thân cây có hang có lỗ, như lỗ mũi, lỗ tai, hoặc miệng người; lại có những lỗ vuông như lỗ đục trong các đà ngang, hoặc lỗ mắt cáo; có lỗ như miệng cối, như ao sâu, như vũng cạn. Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau; có khi như tiếng nước chảy ào ào, tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít, như tiếng người đi trước hô, người đi sau đáp. Gió hiu hiu thổi thì nghe du dương; gió lớn nổi lên thì nghe ào ào. Gió lớn ngừng rồi các hang lỗ lại im lặng…" Nhiều khi ông còn kết hợp giữa tả thực và phóng đại, khoa trương, làm cho những chi tiết được kể đến vừa hư vừa thực, uyên vĩnh hàm súc, giàu sức gợi mở. Trong truyện ngụ ngôn về công tử nước Nhiệm câu cá ( chương 26, ngoại vật, tạp thiên), ngòi bút của Trang Tử đã đi từ thực đến hư như thế. Thoạt đầu ông kể: " Công tử nước Nhiệm làm lưỡi câu to buộc vào dây thừng để câu cá, ngày nào cũng câu, suốt một năm không được một con cá" kế đó, ông viết: " sau cùng có một con cá lớn đớp mồi, kéo lưỡi câu xuống sâu."Cuối cùng thì là: "Cá vùng vẫy, giương vây, sóng bạc nổi lên cao như núi làm chấn động cả biển khơi, tiếng động rùng rợn như ma kêu quỉ gào, người trong vòng nghìn dặm đều sợ đến tét gan."Ngay cả khi chưa hiểu hết ý nghĩa triết lí được lồng vào câu chuyện, độc giả đọc đến đoạn văn trên cũng đã cảm thấy hết sức kì thú.

Sức hấp dẫn trong truyện ngụ ngôn của Trang Tử còn thể hiện ở trí tưởng tượng cực kì phong phú của ông. Trí tưởng tượng đó dường như không có giới hạn, mà lại còn rất có duyên. Trong chương 24, Từ vô quỉ, tạp thiên, khi đi ngang qua mộ của Huệ Tử, để nói lên tình tri kỉ, ông kể về sự hợp ý giữa người đất Dĩnh nước Sở và bạn của anh ta, một người thợ mộc họ Thạch, khi anh ta để cho người thợ mộc dùng búa lớn đẽo cục đất sét dính trên mũi của mình mà không hề sợ hãi. Về sau khi vua Tống Nguyên Quân yêu cầu người thợ mộc làm điều đó với mình thì người thợ mộc từ chối vì cho rằng không ai có thể có đủ tin tưởng và can đảm cho mình đẽo đất sét trên mũi như người đất Dĩnh. Cốt truyện ngắn gọn, tình tiết đơn giản, đúng phong cách của truyện ngụ ngôn. Nhưng chính trí tưởng tượng của Trang Tử khi miêu tả tình huống thợ mộc đẽo đất sét thừa này đã làm cho câu chuyện sinh động thêm rất nhiều: " Một người đất Dĩnh đầu mũi dính một cục đất sét trắng nhỏ bằng cánh con ruồi, nhờ người thợ mộc họ Thạch dùng búa lớn đẽo đi. Người thợ mộc quăng búa nghe vù vù, chặt văng cục đất sét mà không đụng tới mũi người đất Dĩnh, mà người đất Dĩnh mặt cũng không hề đổi sắc" Khả năng hư cấu của Trang Tử quả thật là đáng kinh ngạc! Có lúc ông tưởng tượng ra những vật cực lớn: " Ở phương bắc hoang dã có một cái biển gọi là ao trời, trong biển có một con cá chiều ngang rộng mấy ngàn dặm, không biết chiều dài là bao nhiêu, gọi là cá côn; có một con chim gọi là chim bằng lưng lớn như núi Thái Sơn, cánh như đám mây rũ ở trên trời, nó nương ngọn gió lốc, xoắn như sừng cừu, bay lên cao chín vạn dặm, vượt lên khỏi các đám mây, lưng đội trời xanh mà bay về nam" (chương 1, Tiêu dao du, nội thiên). Có khi ông tưởng tượng ra những vật rất nhỏ " Nhà vua có biết con ốc sên không? Trên sừng bên trái của nó có một nước tên là Xúc, trên sừng bên phải của nó có một nước tên là Man. Hai nước đó tranh đoạt đất của nhau hoài, số tử thương tới mấy vạn, khi quân một nước bại tẩu thì quân nước kia truy kích mười lăm ngày sau mới về." (chương 14, Thiên vận, ngoại thiên ). Cũng cần phải nói thêm là tưởng tượng ra những sự vật với những con số cực đại hoặc cực tiểu như thế không phải là sở trường của người Trung Hoa. Vì họ vốn chú trọng tinh thần thực tiễn. So sánh với văn hóa Ấn Độ ta sẽ thấy, trong khi một vòng đời đối với người Trung Hoa chỉ là một hoa giáp, 60 năm, thì đối với người Ấn Độ, một đại kiếp gồm bốn trung kiếp, một trung kiếp bằng hai mươi tiểu kiếp, một tiểu kiếp gồm mười sáu triệu bảy trăm chín mươi tám ngàn năm, nghĩa là một đại kiếp tổng cộng có một tỉ ba trăm bốn mươi ba triệu một trăm hai mươi ngàn năm. Nếu xét như thế thì Trang Tử quả thật là một nhà văn độc đáo và có phong cách đặc biệt trong nền văn hóa, văn học Trung Quốc.

Vận dụng trí tưởng tượng đó, Trang Tử đã sáng tạo trong truyện ngụ ngôn của mình ba kiểu nhân vật chính: 1. Kiểu nhân vật là loài vật hoặc đồ vật ( VD: Truyện con cá Giếc, chương 26, ngoại vật, tạp thiên; Truyện hỗn độn, chương 7, ứng đế vương, nội thiên; Truyện cá côn, chim bằng, chương 1, tiêu dao du, nội thiên; Truyện ánh sáng và không có, Trí bắc du, chương 22, ngoại thiên; Truyện cái bóng, chương 2, Tề vật luận, Nội thiên ) 2. Kiểu nhân vật hoang đường, kì dị ( VD: Truyện người cụt ngón chân, chương 5, đức sung phù, nội thiên; Truyện Tử Tự và Tử Dư, chương 7, đại tông sư, nội thiên; Truyện Trang Chu và cái sọ người, chương 18, Chí lạc, ngoại thiên; Truyện thần Hà Bá và thần Bắc Hải, Chương 27, Thu thủy, tạp thiên ) 3. Kiểu nhân vật là con người bình thường ( VD: Truyện Kỷ Sảnh Tử luyện gà đá, chương 19, đạt sinh, ngoại thiên; Truyện thầy bói Quí Hàm và Hồ Tử, chương 7, Ứng Đế Vương, nội thiên; Truyện Cừ Bá Ngọc, chương 25, Tắc Dương, Tạp thiên; Truyện Trang Tử đối đáp vua Sở, Chương 27, Thu thủy, tạp thiên; Truyện tên đầu bếp và vua Văn Huệ, Chương 3, Dưỡng sinh chủ, Nội thiên; Truyện ông già nuôi khỉ, Chương 2, Tề Vật luận, nội thiên; Truyện Trang sinh mộng hồ điệp, Chương 2, Tề vật luận, Nội thiên; Truyện ăn trộm mở tráp, chương 10, Khư Khiếp, ngoại thiên; Truyện Điền Thành Tử và vua Tề, chương 10, Khư Khiếp, ngoại thiên; Truyện nàng Lệ Cơ, chương 2, Tề vật luận, nội thiên).

Nếu hiểu truyện ngụ ngôn như là một vở kịch nhỏ, thì yếu tố kịch, tức sự xung đột, mâu thuẫn, nghịch lí của truyện ngụ ngôn trong Trang Tử Nam Hoa kinh thường dẫn đến yếu tố hài. Nhưng điểm khác biệt ở đây là cái hài không phát triển một cách đơn giản theo kiểu Nghịch lí 🡪 tiếng cười 🡪 Cái hài. Cái hài trong truyện ngụ ngôn của Trang Tử phát triển theo một chiều hướng phức tạp hơn, và có thể khái quát thành mô hình như sau: Nghịch lí trên bề mặt 🡪 Chứa đựng cái có lí bên trong 🡪 tiếng cười hài hước. Ta xét ví dụ: truyện Hỗn Độn, chương 7, ứng đế vương, nội thiên. Hỗn Độn sinh ra thiếu mất bảy khiếu ( 2 tai, 2 mắt, 2 lỗ mũi và miệng ). Mau Lẹ và Thình Lình thường đến chơi nhà Hỗn Độn, và vì được Hỗn Độn đối xử tử tế, nên trả ơn bằng cách giúp Hỗn Độn có được bảy khiếu như người bình thường. Họ xúm lại đục trên người Hỗn Độn bảy lỗ. Mỗi ngày một lỗ. Được bảy ngày thì Hỗn Độn chết. Cái nghịch lí ở chỗ, đã là Hỗn Độn mà còn muốn phân biệt rõ ràng bảy khiếu. Cái có lí ở chỗ, khi có đủ bảy khiếu thì không còn là Hỗn Độn nữa ( nên Hỗn Độn phải chết ). Và đến đây thì xuất hiện tiếng cười hài hước. Hay một ví dụ khác: truyện Điền Thành Tử và vua Tề (chương 10, Khư Khiếp, ngoại thiên). Truyện bắt đầu bằng cái nghịch lí: Vua Tề là một vị vua anh minh, thực hiện pháp độ sáng suốt. Điền Thành Tử là kẻ cướp, cướp ngôi vua và giết chết vua Tề. Thế nhưng, Điền Thành Tử lại được thần dân yêu mến. Từ cái nghịch lí này, tác giả lại dẫn dắt câu chuyện đến cái có lí bên trong, đó là: Điền Thành Tử là kẻ cướp thật sự triệt để, nên y không chỉ cướp ngôi vua Tề, mà y còn cướp cả cái anh minh và pháp độ sáng suốt của vua Tề nữa, chính vì thế y mới được thần dân yêu mến. Như thế, tiếng cười trong Trang Tử Nam Hoa kinh không chỉ đơn giản được xây dựng trên cái nghịch lí, mà nó được xây dựng trên sự mâu thuẫn giữa cái nghịch lí và cái có lí, nên nó có một ý nghĩa rất sâu. Và cũng vì vậy mà tiếng cười trong Trang Tử Nam Hoa kinh còn được đánh giá là tiếng cười "u mặc thượng thừa" ( chữ dùng của Thu Giang Nguyễn Duy Cần ).

    III. Kết luận:

Trên đây, chúng tôi đã lần lượt phân tích 4 khía cạnh trong truyện ngụ ngôn của Trang Tử Nam hoa kinh, đó là 1. Kết cấu ; 2. Nghệ thuật kể chuyện; 3. Các kiểu nhân vật; 4. Cái hài hước. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không thể tìm hiểu hết tất cả các đặc điểm về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm được đánh già là một trong những tác phẩm kinh điển của cổ văn Trung Quốc. Chỉ có thể kết luận là, mặc dù sách của Trang Tử có thể khó đọc ở phần triết lí, nhưng vẫn rất hấp dẫn ở những câu chuyện ngụ ngôn của nó. Và nếu có thể có một đối sánh nào đó về mặt nghệ thuật ngôn từ giữa sách của Trang Tử với Lão Tử và Khổng Tử, ta sẽ thấy, nếu như Lão Tử thích dùng nghịch ngôn, Khổng Tử hay sử dụng cách ngôn, thì ngụ ngôn chính là đóng góp đặc sắc của Trang Tử.

TS. Nguyễn Diệu Minh Chân Như - ThS. Phan Anh

Trường Đại học Đồng Tháp

Tư liệu tham khảo:

    1. Giáo trình Văn học Thế giới, tập 1, Lưu Đức Trung chủ biên, NXB Đại học Sư Phạm, 2007
    2. Phương đông học, N.I. Konrad, Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn học, 2007 
    3.  Trung quốc văn học sử, nhân dân văn học xuất bản xã Bắc Kinh, 1988 
     4. Trang Tử và Nam Hoa kinh, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin, 1994 
     5. Trang Tử Nam Hoa kinh, bản dịch của Nhượng Tống, NXB Văn học, 2001 
     6. Sử kí Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, NXB thời đại, 2010