Đặc trưng của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam: Từ thực tiễn đổi mới đến hệ thống quan điểm phát triển đất nước

Thứ tư, 30/09/2026 - 08:00

Tóm tắt: Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy và từng bước khái quát những nhận thức mới về con đường phát triển đất nước. Trên cơ sở làm rõ quá trình hình thành và phát triển của lý luận về đường lối đổi mới, bài viết tập trung phân tích những đặc trưng cơ bản, qua đó bài viết đề xuất một số định hướng nhằm tiếp tục phát huy những đặc trưng và giá trị của lý luận về đường lối đổi mới, góp phần nâng cao năng lực nhận thức, định hướng và giải quyết những vấn đề mới đặt ra trong quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; Đường lối đổi mới; Kỷ nguyên mới; Lý luận; Phát triển đất nước.

1. Từ thực tiễn đổi mới đến sự hình thành lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam không hình thành từ một hệ thống quan điểm được thiết kế hoàn chỉnh trước khi tiến hành đổi mới, mà được hình thành và phát triển trong quá trình nhận thức, giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là đặc điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng để nhận thức đúng bản chất của lý luận về đường lối đổi mới. Thực tiễn những năm trước Đại hội VI cho thấy mô hình quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, trong khi năng lực sản xuất và nhu cầu của đời sống xã hội đòi hỏi phải có sự thay đổi về tư duy và phương thức phát triển. Những tìm tòi, thử nghiệm trong thực tiễn từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1980 đã từng bước tạo ra những chuyển biến trong nhận thức của Đảng về cơ chế quản lý, về động lực phát triển và về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Những thử nghiệm "xé rào", "phá rào", "khoán chui"… đã tạo ra những chuyển biến quan trọng về nhận thức và thực tiễn, góp phần chuẩn bị tiền đề cho bước ngoặt tại Đại hội VI.

Đại hội VI tháng 12 năm 1986 không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, mà trước hết thể hiện sự chuyển biến quan trọng trong phương thức nhận thức và giải quyết những vấn đề của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm cần nhấn mạnh là tại thời điểm khởi xướng đổi mới, Đảng chưa có sẵn một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về toàn bộ công cuộc đổi mới. Chính quá trình thực hiện đường lối đổi mới đặt ra hàng loạt vấn đề mới, buộc lý luận phải tiếp tục được bổ sung và phát triển. Đảng xác định phải tìm tòi, sáng tạo, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, đồng thời coi quá trình chuyển biến sự nghiệp cách mạng theo hướng đổi mới là một quá trình lâu dài, cần tiếp tục suy nghĩ, thử nghiệm và từng bước hình thành cái mới.

Từ đây, mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận trở thành một cơ chế vận động quan trọng của quá trình đổi mới. Thực tiễn không chỉ là nơi triển khai đường lối đã được xác định, mà còn là nguồn cung cấp những vấn đề mới cho tư duy lý luận. Ngược lại, sự phát triển của nhận thức lý luận lại định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện. Chính trong quá trình tác động qua lại đó, nhiều vấn đề trước đây được nhận thức theo cách cũ từng bước được xem xét lại trên cơ sở thực tiễn. Trong lĩnh vực kinh tế, nhận thức về sản xuất hàng hóa, các thành phần kinh tế, cơ chế thị trường và vai trò của lợi ích kinh tế từng bước được đổi mới. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, nhận thức về dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước cũng từng bước được điều chỉnh, bổ sung. Những chuyển biến đó cho thấy đổi mới trước hết là quá trình đổi mới nhận thức, đồng thời là quá trình kiểm nghiệm và phát triển những nhận thức mới trong thực tiễn.

Trên nền tảng tổng kết thực tiễn, lý luận về đường lối đổi mới từng bước được khái quát hóa ở tầm cao hơn qua các kỳ Đại hội. Đại hội VII năm 1991 đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, qua đó xác lập những nguyên tắc và phương hướng lớn cho con đường phát triển của Việt Nam. Điều đáng chú ý là quá trình xây dựng Cương lĩnh không xuất phát từ tham vọng xây dựng trước một mô hình xã hội hoàn chỉnh, mà dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là biểu hiện rõ của phương pháp vừa kiên định những nguyên tắc nền tảng, vừa không ngừng bổ sung nhận thức trên cơ sở thực tiễn.

Cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới, phạm vi và chiều sâu của lý luận cũng từng bước được mở rộng. Từ những nhận thức ban đầu tập trung nhiều vào giải phóng lực lượng sản xuất và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, lý luận về đường lối đổi mới ngày càng bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đến xây dựng Đảng, Nhà nước, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đại hội X xác định nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ, đồng thời cho rằng hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.

Quá trình hình thành lý luận về đường lối đổi mới có thể được nhìn nhận như một quá trình phát triển liên tục, trong đó mỗi bước tiến về nhận thức đều gắn với yêu cầu giải quyết những vấn đề thực tiễn mới. Từ những tìm tòi, thử nghiệm trước Đại hội VI, đến việc xác lập đường lối đổi mới toàn diện, hình thành Cương lĩnh, từng bước hoàn thiện nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới ngày càng chuyển từ những luận điểm riêng lẻ sang một hệ thống quan điểm có tính chỉnh thể. Vì vậy, giá trị của lý luận này không chỉ nằm ở những nội dung đã được xác định, mà còn ở chính phương thức hình thành và phát triển của nó: xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận và tiếp tục kiểm nghiệm lý luận trong thực tiễn.

Trên cơ sở tổng kết 40 năm đổi mới, Đại hội XIV – Đại hội của kỷ nguyên vươn mình – đã xác định rõ vị trí của lý luận về đường lối đổi mới trong nền tảng tư tưởng của Đảng và khái quát lý luận này là "tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"[1]. Điều đó cho thấy quá trình phát triển từ thực tiễn đến lý luận đã đạt tới một bước khái quát mới: lý luận về đường lối đổi mới không còn được nhìn chủ yếu như tập hợp những chủ trương ứng phó với từng vấn đề cụ thể, mà trở thành một hệ thống quan điểm định hướng sự phát triển đất nước trong một chỉnh thể thống nhất. Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục cụ thể hóa định hướng này bằng việc đặt yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và thúc đẩy các động lực phát triển mới, hướng tới thực hiện hai mục tiêu lớn của dân tộc: 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước. Đồng chí Tổng bí thư Tô Lâm đã kêu gọi: "Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược - Kiên định "hai mục tiêu chiến lược 100 năm" - Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân."[2].

Từ quá trình trên có thể thấy, sự hình thành lý luận về đường lối đổi mới là một quá trình vận động từ cái chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh, từ những vấn đề thực tiễn cụ thể đến hệ thống quan điểm có tính khái quát và định hướng lâu dài. Chính nguồn gốc thực tiễn, phương thức tổng kết thực tiễn và quá trình không ngừng bổ sung, phát triển nhận thức đã tạo nên những đặc trưng riêng của lý luận về đường lối đổi mới. Đây cũng là cơ sở để nhận diện sâu hơn các đặc trưng về tính thực tiễn, tính khoa học, tính kế thừa và phát triển, cũng như tính mở và khả năng tự hoàn thiện của hệ thống lý luận này.

2. Những đặc trưng cơ bản của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng đã từng bước được hình thành và hoàn thiện trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và không ngừng bổ sung nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng ta đã chính thức bổ sung và khẳng định lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phần cấu thành nên nền tảng tư tưởng của Đảng: "Kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới"[3]. Cách khái quát này cho thấy đây không phải là tập hợp những chủ trương riêng lẻ, mà là một hệ thống quan điểm có tính định hướng đối với toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Từ quá trình hình thành và vận động đó, có thể nhận diện một số đặc trưng cơ bản sau:

Một là, tính thực tiễn và khả năng phát triển từ thực tiễn. Tính thực tiễn trước hết thể hiện ở nguồn gốc hình thành của lý luận về đường lối đổi mới. Lý luận này không xuất phát từ việc áp dụng nguyên mẫu một mô hình phát triển có sẵn, mà được đặt ra từ những vấn đề cụ thể của Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, những khó khăn trong sản xuất và đời sống, cùng yêu cầu giải phóng các nguồn lực phát triển đã đặt ra đòi hỏi khách quan phải đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo, quản lý. Đồng chí cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói: "Chuyển biến toàn bộ sự nghiệp cách mạng theo hướng đổi mới là một quá trình lâu dài. Chúng ta còn phải tiếp tục kiên trì suy nghĩ, tìm tòi, thử nghiệm, từng bước hình thành cái mới một cách tích cực và vững chắc"[4]. Trên cơ sở đó, Đại hội VI đã khẳng định yêu cầu xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, đồng thời ghi nhận đường lối đổi mới được hình thành qua quá trình phân tích tình hình, tự phê bình, đổi mới tư duy và nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn.

Tuy nhiên, tính thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới không chỉ nằm ở nguồn gốc mà còn thể hiện trong phương thức phát triển của nó. Thực tiễn được xem vừa là điểm xuất phát, vừa là môi trường kiểm nghiệm và là nguồn cung cấp những vấn đề mới cho lý luận. Trong quá trình đổi mới, những nhận thức về kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế, dân chủ, Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế hay các động lực phát triển đều được hình thành và điều chỉnh trong quá trình giải quyết những vấn đề thực tiễn. Vì vậy, giữa thực tiễn và lý luận hình thành một quá trình vận động liên tục: thực tiễn đặt ra vấn đề, lý luận khái quát và định hướng giải quyết, còn thực tiễn tiếp tục kiểm nghiệm, bổ sung và phát hiện những vấn đề mới. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, giữa nghiên cứu lý luận với hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương.

Điểm đáng chú ý là tính thực tiễn làm cho lý luận về đường lối đổi mới luôn có khả năng phát triển cùng với sự vận động của đất nước. Khi điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và môi trường quốc tế thay đổi, những vấn đề mới xuất hiện cũng đòi hỏi nhận thức lý luận được bổ sung tương ứng. Vì thế, giá trị của lý luận không được xác định chỉ bởi những luận điểm đã hình thành trong quá khứ, mà còn bởi khả năng tiếp tục giải thích và định hướng trước những vấn đề mới của thực tiễn. Đây là cơ sở tạo nên sức sống của lý luận về đường lối đổi mới.

Hai là, tính khoa học và cách mạng trong nhận thức và giải quyết các vấn đề phát triển. Tính khoa học của lý luận về đường lối đổi mới trước hết thể hiện ở yêu cầu nhận thức và hành động phù hợp với quy luật khách quan, tôn trọng sự thật và xuất phát từ những điều kiện hiện thực của đất nước. Đổi mới vì vậy không đồng nhất với sự thay đổi tùy tiện các mục tiêu, nguyên tắc hay phương hướng phát triển, mà là quá trình điều chỉnh những nhận thức và phương thức tổ chức thực hiện không còn phù hợp để giải phóng nguồn lực và tạo điều kiện cho các mục tiêu đã lựa chọn được thực hiện hiệu quả hơn. Đại hội VI đặt vấn đề đổi mới trên cơ sở đánh giá thực chất tình hình, thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm và tìm kiếm phương thức phát triển phù hợp với quy luật khách quan: "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không giấu giếm khuyết điểm"[5].

Tính khoa học còn thể hiện ở khả năng nhận diện đúng các mối quan hệ có tính quy luật trong phát triển. Trong quá trình đổi mới, Đảng ngày càng chú trọng xử lý đồng bộ các quan hệ giữa đổi mới với ổn định và phát triển, giữa kinh tế với chính trị, giữa phát triển lực lượng sản xuất với hoàn thiện quan hệ sản xuất, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển đất nước với bảo vệ Tổ quốc, giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: "không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược; tôn trọng quy luật khách quan; nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống bệnh chủ quan duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ"[6], đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa kế thừa, bổ sung và phát triển, giữa kiên định và đổi mới.

Tính cách mạng của lý luận lại được thể hiện ở khả năng phát hiện, khắc phục và thay thế những nhận thức, cơ chế và phương thức phát triển đã trở thành lực cản đối với tiến bộ xã hội. Chính vì vậy, đổi mới tư duy không chỉ là hoạt động nhận thức thuần túy mà gắn với những thay đổi trong thực tiễn tổ chức đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Tính khoa học cung cấp cơ sở để nhận thức đúng hiện thực và quy luật vận động; tính cách mạng thúc đẩy quá trình chuyển hóa nhận thức đó thành những thay đổi phù hợp trong thực tiễn. Hai phương diện này thống nhất với nhau, làm cho lý luận về đường lối đổi mới vừa có cơ sở nhận thức, vừa có khả năng định hướng hành động.

Ba là, tính kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo trên nền tảng tư tưởng của Đảng. Lý luận về đường lối đổi mới được hình thành trong quá trình đổi mới nhưng không đồng nghĩa với sự đoạn tuyệt với những nền tảng tư tưởng và những giá trị lý luận đã được xác lập trước đó. Một trong những đặc điểm nổi bật của quá trình này là sự kết hợp giữa kiên định và phát triển, giữa kế thừa những nguyên lý có giá trị với bổ sung những nhận thức mới do thực tiễn đặt ra. Đổi mới tư duy không phải phủ nhận những thành tựu lý luận đã có, mà là bổ sung và phát triển chúng trên cơ sở những yêu cầu mới của thực tiễn.

Từ góc độ đó, lý luận về đường lối đổi mới vừa bảo đảm tính liên tục của nền tảng tư tưởng, vừa thể hiện khả năng phát triển sáng tạo trong điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp thế giới quan và phương pháp luận nền tảng; thực tiễn Việt Nam cung cấp chất liệu cụ thể; còn quá trình tổng kết, khái quát và phát triển nhận thức của Đảng tạo nên những nội dung lý luận phù hợp với điều kiện mới. Bởi vậy, tính kế thừa ở đây không phải là giữ nguyên những nhận thức cũ, còn tính phát triển cũng không phải là phủ định cái đã có, mà là quá trình xử lý biện chứng giữa ổn định nền tảng và đổi mới nội dung.

Đặc điểm này được thể hiện khá rõ trong quá trình phát triển nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ những vấn đề ban đầu về cơ chế quản lý kinh tế, lý luận dần được mở rộng thành hệ thống quan điểm về mô hình phát triển, về các lĩnh vực của đời sống xã hội, về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đại hội XIV đặt ra quan điểm chỉ đạo đầu tiên: "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới"[7]. Như vậy, kế thừa là điều kiện bảo đảm tính nhất quán về nền tảng và mục tiêu; bổ sung và phát triển sáng tạo là phương thức để lý luận thích ứng với những điều kiện lịch sử mới.

Bốn là, tính mở, linh hoạt và khả năng tự hoàn thiện trong quá trình phát triển đất nước. Tính mở của lý luận về đường lối đổi mới trước hết thể hiện ở chỗ đây là một hệ thống lý luận không khép kín, luôn có khả năng tiếp nhận những vấn đề mới từ thực tiễn trong nước và những biến đổi của môi trường quốc tế. Đây cũng là nguyên tắc phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Chính Ph. Ăng-ghen từng nói rõ: "Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc"[8]. Kế thừa tinh thần đó, V.I. Lê-nin cũng khẳng định và nhấn mạnh: "Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống"[9]. Khi đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại"[10]. Bởi vậy, Người luôn yêu cầu không được rập khuôn, máy móc, giáo điều: "Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại"[11]. Quá trình đổi mới cho thấy nhiều nội dung lý luận được xác lập theo từng bước, từ những nhận thức ban đầu đến ngày càng hoàn chỉnh hơn. Điều này cho phép lý luận không ngừng điều chỉnh phạm vi, nội dung và cách tiếp cận trước những biến đổi của điều kiện phát triển.

Tính mở đồng thời tạo cơ sở cho sự linh hoạt trong vận dụng. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc không loại trừ việc điều chỉnh phương thức, bước đi và chính sách cụ thể. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV khái quát yêu cầu "nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống bệnh chủ quan duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ"[12], qua đó thể hiện một phương thức kết hợp giữa tính ổn định của mục tiêu và sự chủ động thích ứng trong tổ chức thực hiện. Đây là điểm quan trọng để phân biệt tính linh hoạt trong lý luận về đường lối đổi mới với sự thay đổi thiếu định hướng. Linh hoạt không có nghĩa là tùy tiện, mà là khả năng lựa chọn cách thức phù hợp với điều kiện cụ thể trong khi vẫn giữ vững những định hướng cơ bản.

Từ tính mở và linh hoạt, lý luận về đường lối đổi mới có khả năng tự hoàn thiện thông qua chính quá trình vận động của công cuộc đổi mới. Khi thực tiễn phát triển đặt ra những vấn đề mới, quá trình tổng kết và nghiên cứu lý luận giúp phát hiện những khoảng trống nhận thức, những điểm chưa phù hợp hoặc những yêu cầu mới cần được giải đáp. Những kết quả đó lại trở thành cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan điểm phát triển đất nước. Đại hội XIV đánh giá 40 năm đổi mới là quá trình phát triển toàn diện về tư duy, nhận thức lý luận và đường lối lãnh đạo, đồng thời khẳng định Đảng đã từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới.

Như vậy, tính mở không chỉ nói đến khả năng tiếp nhận cái mới, còn khả năng tự hoàn thiện cho thấy cơ chế vận động bên trong của lý luận. Đây là quá trình trong đó lý luận được bổ sung từ những vấn đề mới của thực tiễn, được điều chỉnh thông qua tổng kết, nghiên cứu và lại trở thành cơ sở định hướng cho thực tiễn

3. Phát huy những đặc trưng của lý luận về đường lối đổi mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Lý luận về đường lối đổi mới là kết quả của quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy và phát triển nhận thức lý luận của Đảng trong suốt 40 năm đổi mới. Việc Đại hội XIV xác định lý luận về đường lối đổi mới là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ khẳng định những giá trị đã được hình thành và kiểm nghiệm trong thực tiễn, mà còn đặt ra yêu cầu tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống lý luận này trước những vấn đề mới của đất nước và thời đại. Điều đó đòi hỏi phải phát huy đầy đủ tính thực tiễn, khoa học và cách mạng, tính kế thừa và phát triển sáng tạo, tính mở và linh hoạt của lý luận về đường lối đổi mới, qua đó nâng cao năng lực định hướng và dẫn dắt thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời phát hiện và giải đáp những vấn đề mới của thực tiễn phát triển đất nước.

Đây là yêu cầu trước hết để tiếp tục phát huy tính thực tiễn của lý luận về đường lối đổi mới. Lịch sử 40 năm đổi mới cho thấy, những bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận đều có nguồn gốc sâu xa từ thực tiễn. Những vấn đề thực tiễn đặt ra, những mô hình mới xuất hiện, những cách làm hiệu quả cũng như những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển đều là chất liệu để xem xét lại nhận thức, khái quát thành những luận điểm mới và từng bước hoàn thiện đường lối. Chính quá trình từ thực tiễn đến lý luận rồi trở lại định hướng thực tiễn đã tạo nên sức sống của lý luận về đường lối đổi mới.

Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu tổng kết thực tiễn càng trở nên quan trọng khi thực tiễn phát triển đang biến đổi với tốc độ nhanh và xuất hiện nhiều vấn đề chưa có tiền lệ. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh, các mô hình kinh doanh và phương thức sản xuất mới; những biến đổi về cơ cấu xã hội, dân số, lao động, đô thị hóa; yêu cầu bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh mạng, an ninh con người; cùng những biến động nhanh chóng của môi trường quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với tư duy phát triển. Nếu nghiên cứu lý luận không theo kịp những chuyển động đó thì khoảng cách giữa lý luận với thực tiễn có nguy cơ gia tăng.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực nhận thức, dự báo và giải quyết những vấn đề mới của quá trình phát triển.

Công cuộc đổi mới được khởi đầu trước hết từ đổi mới tư duy; do đó, tiếp tục phát triển lý luận về đường lối đổi mới cũng phải bắt đầu từ việc không ngừng đổi mới tư duy lý luận. Điều này đặc biệt cần thiết khi nhiều vấn đề phát triển hiện nay có tính liên ngành, xuyên quốc gia và biến đổi nhanh, không thể giải quyết hiệu quả chỉ bằng những cách tiếp cận đơn tuyến hoặc kinh nghiệm đã hình thành trong những điều kiện trước đây.

Đổi mới tư duy lý luận trước hết phải tiếp tục quán triệt phương pháp nhìn thẳng vào thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, khắc phục biểu hiện chủ quan, duy ý chí, giáo điều và bảo thủ. Đồng thời, phải chuyển mạnh từ tư duy phản ứng trước những vấn đề đã phát sinh sang tư duy chủ động dự báo và kiến tạo phát triển; từ cách xem xét từng lĩnh vực riêng biệt sang tư duy hệ thống; từ chú trọng xử lý những vấn đề trước mắt sang kết hợp hài hòa giữa yêu cầu trước mắt và mục tiêu dài hạn. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo của nghiên cứu lý luận. Trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và nhiều yếu tố bất định xuất hiện, lý luận không thể chỉ giải thích những gì đã diễn ra mà cần có khả năng nhận diện xu hướng, dự báo những vấn đề có thể xuất hiện và cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương án phát triển.

Ba là, bảo đảm sự thống nhất giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển trong tiếp tục hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới.

Sự phát triển của lý luận về đường lối đổi mới phải được đặt trên nền tảng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cái ổn định và cái biến đổi. Chính việc xử lý biện chứng mối quan hệ này giúp lý luận vừa duy trì được tính nhất quán, vừa tránh rơi vào tình trạng bảo thủ, trì trệ. Trước hết, cần tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những thành tựu lý luận của công cuộc đổi mới đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Tuy nhiên, kiên định nền tảng không đồng nghĩa với coi những nhận thức cụ thể đã hình thành là bất biến. Thực tiễn luôn vận động, vì vậy những vấn đề cụ thể về mô hình phát triển, cơ chế quản lý, thể chế, nguồn lực, động lực và phương thức tổ chức thực hiện cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Chính đặc trưng kế thừa và phát triển sáng tạo đã được thể hiện khá rõ trong quá trình hình thành lý luận đổi mới: từ những nhận thức ban đầu tập trung vào đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, lý luận từng bước phát triển thành hệ thống quan điểm bao quát kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Do đó, cần phân biệt rõ những vấn đề mang tính nguyên tắc với những nhận thức và phương thức cụ thể cần được tiếp tục đổi mới. Đây là điều kiện để tránh cả hai khuynh hướng: nhân danh đổi mới để xa rời những nguyên tắc nền tảng hoặc nhân danh kiên định để bảo lưu những nhận thức, cơ chế đã không còn phù hợp với thực tiễn. Phát triển lý luận về đường lối đổi mới vì vậy phải là quá trình kế thừa có chọn lọc, bổ sung có cơ sở và phát triển sáng tạo trên nền tảng những giá trị đã được thực tiễn kiểm nghiệm.

Bốn là, chủ động tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận, tri thức và kinh nghiệm phát triển của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tính mở là một đặc trưng quan trọng tạo nên khả năng phát triển của lý luận về đường lối đổi mới. Một hệ thống lý luận có sức sống không thể tồn tại biệt lập trước sự phát triển của tri thức nhân loại và những biến đổi của thực tiễn thế giới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những thành tựu mới của khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế học, quản trị quốc gia, khoa học, công nghệ cũng như kinh nghiệm phát triển của các quốc gia tạo ra nguồn tri thức phong phú để Việt Nam nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu.

Tuy nhiên, tiếp thu không đồng nghĩa với sao chép. Mỗi mô hình phát triển đều hình thành trong những điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể. Những kinh nghiệm thành công ở một quốc gia chưa chắc có thể chuyển nguyên trạng sang một quốc gia khác. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế phải luôn được đặt trong quan hệ với điều kiện và yêu cầu phát triển cụ thể của Việt Nam. Cần phân biệt những giá trị có tính phổ quát với những yếu tố mang tính đặc thù; nghiên cứu cả thành công và hạn chế của các mô hình phát triển để lựa chọn những giá trị có thể vận dụng phù hợp.

Năm là, gắn chặt phát triển lý luận về đường lối đổi mới với hoạch định và tổ chức thực hiện các định hướng chiến lược phát triển đất nước.

Mục đích cuối cùng của phát triển lý luận không chỉ là xây dựng một hệ thống tri thức ngày càng hoàn chỉnh mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng định hướng và dẫn dắt thực tiễn. Vì vậy, nghiên cứu và phát triển lý luận về đường lối đổi mới phải gắn chặt với quá trình hoạch định chủ trương, xây dựng thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Theo đó, cần rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu lý luận với quá trình hoạch định chính sách. Những kết quả nghiên cứu có giá trị phải được chuyển hóa kịp thời thành luận cứ cho việc xác định mục tiêu, lựa chọn mô hình, hoàn thiện thể chế và xác lập những động lực phát triển mới. Ngược lại, quá trình xây dựng và thực hiện chính sách phải trở thành một kênh quan trọng để kiểm nghiệm các nhận thức lý luận. Những chính sách phù hợp cần được tổng kết để khái quát thành kinh nghiệm và nhận thức mới; những chính sách bộc lộ hạn chế cần được nghiên cứu để nhận diện nguyên nhân, điều chỉnh và tiếp tục hoàn thiện lý luận. Như vậy, giữa nghiên cứu lý luận, hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn cần hình thành mối quan hệ thường xuyên, hai chiều và liên tục.

Trong kỷ nguyên mới, khi yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược ngày càng cao, lý luận cần phát huy mạnh hơn vai trò dự báo, định hướng và kiến tạo. Điều đó đòi hỏi nghiên cứu lý luận không chỉ theo sau để giải thích thực tiễn, mà trong những vấn đề đã đủ cơ sở khoa học phải có khả năng đi trước, dự báo xu hướng, nhận diện cơ hội và thách thức, cung cấp luận cứ cho những quyết sách chiến lược.

Thực hiện đồng bộ những nội dung trên sẽ góp phần phát huy những đặc trưng vốn có của lý luận về đường lối đổi mới, đồng thời tạo điều kiện để hệ thống lý luận này tiếp tục được bổ sung và phát triển trong điều kiện mới. Xét đến cùng, sức sống của lý luận về đường lối đổi mới nằm ở mối quan hệ biện chứng với thực tiễn: được hình thành từ thực tiễn, khái quát và soi sáng thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm, rồi từ chính những vấn đề mới của thực tiễn lại tiếp tục được bổ sung và phát triển. Vì vậy, phát huy giá trị của lý luận về đường lối đổi mới không phải là cố định hóa những nhận thức đã có, mà là giữ vững nền tảng, đồng thời duy trì năng lực tự đổi mới và phát triển của lý luận. Đó cũng là điều kiện để lý luận về đường lối đổi mới tiếp tục cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách và định hướng sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Trung tá Phan Thị Như Thảo

Phó Trưởng phòng Công tác Chính trị, Công an tỉnh Lâm Đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1999), Toàn tập, tập 36, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, 2, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

5. Nguyễn Văn Linh (1988), Đổi mới để tiến lên, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội.

6. Tô Lâm (2026), "Tự chủ chiến lược – Kiên định ‘hai mục tiêu chiến lược 100 năm’ – Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân", Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tu-chu-chien-luoc-kien-dinh-hai-muc-tieu-chien-luoc-100-nam-chung-suc-dong-long-quyet-tam-quyet-liet-vi-cuoc-song-am-no-hanh-phuc-cua-nhan-dan. Ngày truy cập: 27/9/2026.

7. V.I. Lê-nin (1980), Toàn tập, tập 4, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.1, tr.76. ↑

    Tô Lâm (2026), "Tự chủ chiến lược – Kiên định ‘hai mục tiêu chiến lược 100 năm’ – Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân", Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập tại: https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tu-chu-chien-luoc-kien-dinh-hai-muc-tieu-chien-luoc-100-nam-chung-suc-dong-long-quyet-tam-quyet-liet-vi-cuoc-song-am-no-hanh-phuc-cua-nhan-dan. Ngày truy cập: 27/9/2026. ↑

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.81. ↑

    Nguyễn Văn Linh (1988), Đổi mới để tiến lên, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 5. ↑

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.473-474. ↑

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.238-239. ↑

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.259. ↑

    C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t. 36, tr. 796 ↑

    V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t.4, tr.232. ↑

    Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.97-98. ↑

    Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.11, tr.98. ↑

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.238-239. ↑