Đại đoàn kết toàn dân tộc - Sức mạnh mềm vững chắc của Đảng trong kỷ nguyên mới

Thứ tư, 27/05/2026 - 17:08

Tóm tắt: Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược xuyên suốt cách mạng Việt Nam, là sức mạnh mềm vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới. Đại đoàn kết tạo sự thống nhất thức và hành động, tạo sức đề kháng trước các quan điểm sai trái. Là nguồn sức mạnh tổng hợp, kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng phát triển của toàn dân, góp phần nâng cao nội lực quốc gia.

Đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, bảo đảm cho sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đặt ra đổi mới nội dung, phương thức thực hiện nhằm đánh thức, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của con người đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, mỗi khi đất nước đứng trước bước ngoặt lớn, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại bừng sáng như một chân lý bất biến vừa là cội nguồn sức mạnh, vừa là điểm tựa tinh thần vững chắc để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách. Bước vào kỷ nguyên mới với những thời cơ và thách thức đan xen, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực; các luồng tư tưởng đa chiều, yêu cầu củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh đó, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống quý báu mà là sức mạnh mềm kiên cố, bảo vệ Đảng trước mọi biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các âm mưu, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài.

1. Đại đoàn kết toàn dân tộc vấn đề chiến lược, tạo nền tảng thống nhất tư tưởng, sức mạnh mềm bảo vệ Đảng từ gốc rễ

Sức mạnh mềm là sự kết tinh của truyền thống văn hoá, lịch sử của dân tộc, đó là ý chí, sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ về yêu nước, đoàn kết, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm; cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất; nhân ái, nghĩa tình, thuỷ chung trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người… Những đức tính đó là giá trị, bản chất tốt đẹp của con người Việt Nam, được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trở thành "sức mạnh mềm" vô địch để dân tộc mãi trường tồn, phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, khi các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", thì "sức mạnh mềm" đó càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ giúp nhận diện, sàng lọc và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn tạo ra sức đề kháng từ bên trong xã hội, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng được bảo vệ một cách bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh lớn nhất của cách mạng chính là lòng dân; khi lòng dân vững chắc, niềm tin được củng cố, thì đó chính là "pháo đài" tư tưởng kiên cố nhất bảo vệ Đảng và chế độ. Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược, xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây không chỉ là phương châm vận động quần chúng, mà còn là nguyên lý mang tính quy luật quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công"(1).

Đại đoàn kết toàn dân tộc là sự thống nhất cao về mục tiêu, lý tưởng, niềm tin và hành động của toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự thống nhất ấy không phải tự nhiên hình thành mà được xây dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các giai tầng, tôn trọng sự khác biệt trong khuôn khổ lợi ích chung của quốc gia - dân tộc. Khi đạt tới sự đồng thuận xã hội rộng lớn, đại đoàn kết dân tộc trở thành nền tảng vững chắc để hình thành "thế trận tư tưởng" bền chặt, tạo ra khả năng "tự bảo vệ từ bên trong" trước mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, không gian tư tưởng không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia mà đã mở rộng ra toàn cầu, đặc biệt là trên môi trường mạng. Các thế lực thù địch lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hòa bình", tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới của Đảng kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đó, nếu xã hội thiếu sự thống nhất về nhận thức, thiếu niềm tin vào Đảng, rất dễ nảy sinh dao động về tư tưởng, tạo điều kiện cho các quan điểm sai trái thâm nhập và lan rộng. Chính vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ trở thành sức mạnh mềm có ý nghĩa quyết định đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Khi Nhân dân tin tưởng vào Đảng, đồng thuận với đường lối của Đảng, thì mọi thông tin sai trái, thù địch sẽ khó có thể chia rẽ. Đảng ta khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"(2).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, ở bất kỳ giai đoạn nào, khi khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố thì cách mạng phát triển, ngược lại khi đoàn kết bị suy giảm thì sẽ nảy sinh những khó khăn, thách thức lớn. Trong các cuộc kháng chiến, chính sự đoàn kết của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô địch, giúp dân tộc ta vượt qua những kẻ thù mạnh hơn nhiều lần. Trong thời kỳ đổi mới, sự đồng thuận xã hội đã trở thành yếu tố quan trọng giúp đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập và phát triển.

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là vấn đề chính trị - xã hội mà còn là vấn đề tư tưởng sâu sắc. Bởi lẽ, mọi sự chia rẽ về lợi ích, xung đột về nhận thức nếu không được giải quyết sẽ dẫn đến phân hóa tư tưởng, làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngược lại, khi các mối quan hệ xã hội được điều hòa hợp lý, khi lợi ích được bảo đảm công bằng, khi tiếng nói của Nhân dân được lắng nghe và tôn trọng, sẽ hình thành sự thống nhất tư tưởng. Đây chính là cơ sở quan trọng để xây dựng niềm tin từ lòng dân, yếu tố cốt tử mà không một thế lực nào có thể phá vỡ nếu được củng cố vững chắc. Đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là trạng thái tĩnh mà là một quá trình động, luôn cần được củng cố, phát triển và làm mới. Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội ngày càng đa dạng về lợi ích, về nhu cầu và về cách tiếp cận thông tin, việc xây dựng sự đồng thuận càng trở nên khó khăn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của Nhân dân. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: "Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân… chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết sách của mình"(3).

2. Đại đoàn kết toàn dân tộc là sự kết tinh trí tuệ và ý chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường"(3). Điều đó cho thấy, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ mang ý nghĩa chính trị - xã hội mà còn là nguồn sức mạnh tổng hợp to lớn, kết tinh từ trí tuệ, bản lĩnh và ý chí của toàn thể Nhân dân. Đây chính là yếu tố quyết định tạo nên nội lực quốc gia, đồng thời là cơ sở thực tiễn vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi điều kiện lịch sử.

Trong kỷ nguyên số, trí tuệ và sáng tạo của con người ngày càng trở thành nguồn lực quyết định. Đại đoàn kết toàn dân tộc vì thế không chỉ là sự liên kết về mặt tổ chức mà còn là sự hội tụ về trí tuệ, là môi trường để mọi cá nhân, mọi tầng lớp phát huy năng lực, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Chính sự kết tinh trí tuệ ấy góp phần làm giàu và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong công cuộc đổi mới, chính sự đồng thuận và chung sức của toàn dân đã giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn như: thiên tai, dịch bệnh, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái lại càng được phát huy mạnh mẽ, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho toàn xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Mỗi người dân Việt Nam, dù khác biệt về vùng miền, dân tộc, tôn giáo hay nghề nghiệp đều cùng chung một quyết tâm: đoàn kết vì tương lai phồn vinh của đất nước. Đó chính là cội nguồn của ý chí, niềm tin và sức mạnh để hiện thực hoá mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, nhân dân hạnh phúc"(4). Điều đó cho thấy Đảng ta không chỉ coi đại đoàn kết dân tộc là truyền thống mà còn là nguồn lực chiến lược trong giai đoạn phát triển mới. Việc phát huy nguồn lực này gắn liền với yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tận dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, đồng thời giữ vững bản sắc văn hoá và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chính vì vậy, để đại đoàn kết dân tộc thực sự trở thành sức mạnh tổng hợp bền vững, cần có những điều kiện bảo đảm về chính trị, kinh tế và xã hội, đó là: phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai tầng, các vùng miền, tạo sự công bằng và cơ hội phát triển cho mọi người dân. Đồng thời, cần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, củng cố niềm tin và sự gắn kết cộng đồng. Đặc biệt, trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, việc định hướng thông tin chính thống, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và bản lĩnh chính trị cho người dân là yếu tố quan trọng để phát huy đúng hướng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới.

3. Đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng

Trong mọi thời kỳ cách mạng, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của đất nước. Đại đoàn kết toàn dân tộc chính là môi trường, là nền tảng để hình thành, củng cố và lan tỏa niềm tin ấy. Khi khối đại đoàn kết dân tộc được xây dựng vững chắc, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng được tăng cường sẽ là sức mạnh mềm vững chắc bảo vệ Đảng trước mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Niềm tin của Nhân dân không phải là yếu tố tự nhiên có sẵn, mà được hình thành và bồi đắp thông qua quá trình Đảng lãnh đạo, tổ chức thực tiễn, giải quyết hài hòa các lợi ích và đáp ứng những nhu cầu chính đáng của Nhân dân. Khi người dân cảm nhận rõ ràng lợi ích của mình gắn liền với lợi ích của Đảng và của đất nước, thì niềm tin sẽ được củng cố một cách bền vững. Ngược lại, nếu để nảy sinh khoảng cách giữa Đảng và Nhân dân, thì niềm tin sẽ bị suy giảm, từ đó làm suy yếu khối đại đoàn kết và tạo ra những "khe hở" trong trận địa tư tưởng.

Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch, phản động gia tăng các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, việc củng cố niềm tin của Nhân dân càng trở nên cấp thiết. Các luận điệu xuyên tạc thường tập trung vào việc làm suy giảm uy tín của Đảng, gây hoài nghi trong xã hội, từ đó làm lung lay nền tảng tư tưởng. Tuy nhiên, nếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững, nếu Nhân dân có niềm tin vững chắc vào Đảng, thì những luận điệu đó sẽ khó có thể tác động sâu rộng. Nói cách khác, niềm tin của Nhân dân chính là "hàng rào bảo vệ" tự nhiên và hiệu quả nhất đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh vai trò niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trong các cuộc kháng chiến, chính sự tin tưởng tuyệt đối của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên sức mạnh vô địch, giúp dân tộc ta vượt qua những thử thách khốc liệt. Trong thời kỳ đổi mới, niềm tin ấy tiếp tục được củng cố thông qua những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân và khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Đó là những minh chứng sinh động cho mối quan hệ biện chứng giữa đại đoàn kết, niềm tin xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã chỉ rõ: "Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp"(5). Điều đó cho thấy Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng, niềm tin của Nhân dân không chỉ là kết quả của đại đoàn kết dân tộc mà còn là điều kiện để duy trì và phát triển khối đại đoàn kết trong bối cảnh mới.

Để củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, cần tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của Nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, Đảng và Nhà nước cần không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc, bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, giúp Nhân dân nhận diện rõ các âm mưu, thủ đoạn chống phá, từ đó chủ động "miễn dịch" trước các thông tin sai trái; quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; kết hợp chặt chẽ giữa phát huy dân chủ với tăng cường pháp luật, kỷ cương xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt cấp cơ sở thật sự gần dân, sát dân, hiểu dân, trọng dân và giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc cho Nhân dân.

4. Đổi mới nội dung, phương thức phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới

Dưới tác động của toàn cầu hóa và Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ dừng lại ở những hình thức truyền thống, mà đòi hỏi phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương thức thực hiện. Với tinh thần đó, việc đổi mới nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc cần hướng tới việc giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa các vùng miền và giữa các lĩnh vực phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự đa dạng về lợi ích là điều tất yếu. Nếu không được nhận diện và xử lý đúng đắn, những khác biệt về lợi ích có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến phân hóa xã hội, làm suy giảm sự đồng thuận và ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, nội dung của đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay phải gắn liền với việc bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người dân tham gia và hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển.

Đại đoàn kết toàn dân tộc cần được mở rộng trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt nhưng không làm phương hại đến lợi ích chung của quốc gia - dân tộc. Điều này đặc biệt quan trọng trong một xã hội ngày càng đa dạng về trình độ, nghề nghiệp, điều kiện sống và cách tiếp cận thông tin. Việc tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích đối thoại, lắng nghe và thấu hiểu sẽ góp phần tạo ra môi trường xã hội cởi mở, dân chủ, từ đó củng cố sự đồng thuận và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đây cũng chính là cơ sở để xây dựng một nền tảng tư tưởng vững chắc, có khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến động của thời đại.

Về phương thức thực hiện, đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào vận động hành chính sang phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân. Điều này có nghĩa là Nhân dân không chỉ là đối tượng được vận động mà phải trở thành chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Việc mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của Nhân dân, tăng cường đối thoại giữa chính quyền và người dân sẽ giúp nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, đồng thời tạo điều kiện để các ý kiến, sáng kiến của Nhân dân được tiếp thu và phát huy.

Đặc biệt, cần đổi mới phương thức tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Không gian mạng hiện nay đã trở thành một "không gian xã hội mới", nơi diễn ra các hoạt động giao tiếp, trao đổi thông tin và hình thành dư luận xã hội. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu được khai thác hiệu quả, không gian mạng sẽ trở thành công cụ hữu hiệu để lan tỏa các giá trị tích cực, củng cố niềm tin và tăng cường sự gắn kết xã hội. Ngược lại, nếu không được quản lý và định hướng đúng đắn, đây cũng có thể trở thành môi trường để các thông tin xấu, độc lan truyền, gây nhiễu loạn nhận thức và làm suy yếu khối đại đoàn kết. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là phải xây dựng và phát huy "không gian đoàn kết số", trong đó mỗi người dân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tham gia tạo lập và lan tỏa thông tin tích cực. Điều này đòi hỏi phải nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là năng lực tiếp cận và xử lý thông tin, giúp người dân có khả năng nhận diện, phân tích và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Khi mỗi cá nhân trở thành một "chủ thể tư tưởng" có bản lĩnh và trách nhiệm, thì khối đại đoàn kết sẽ được củng cố từ bên trong, tạo thành "lá chắn tư tưởng" vững chắc và linh hoạt. Đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn mở rộng ra cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là bộ phận không tách rời của dân tộc, có vai trò quan trọng trong việc kết nối Việt Nam với thế giới, đồng thời đóng góp nguồn lực to lớn cho sự phát triển đất nước. Việc tăng cường gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với trong nước không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn góp phần củng cố sức mạnh tư tưởng, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn dân tộc, bất kể ở đâu. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, việc đổi mới nội dung và phương thức đại đoàn kết dân tộc không phải là sự thay đổi tùy tiện, mà phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản, đó là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Mọi sự đổi mới nếu xa rời những nguyên tắc này đều có thể dẫn đến những hệ lụy tiêu cực, làm suy yếu khối đại đoàn kết và ảnh hưởng đến nền tảng tư tưởng của Đảng. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: "Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo… ; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia - dân tộc"(6).

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ gìn mà còn phải không ngừng củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những phương thức mới, phù hợp với điều kiện phát triển của thời đại số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhìn về phía trước, con đường phát triển của đất nước chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn, thử thách. Song, nếu giữ vững và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nếu xây dựng được một nền tảng tư tưởng vững chắc dựa trên niềm tin của Nhân dân, thì không có trở lực nào có thể cản bước dân tộc Việt Nam. Đại đoàn kết khi đó không chỉ là "lá chắn" bảo vệ, mà còn là "động lực" kiến tạo tương lai - nơi hội tụ ý chí, khát vọng và sức mạnh vô địch của toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển phồn vinh, hùng cường.

Trung tá Quân nhân chuyên nghiệp Vũ Chí Thắng

Phòng Chính trị - Học viện Chính trị


Chú thích

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.119.

(2) https://tulieuvankien.dangcongsan.vn, Toàn văn: Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

(3), (5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.36, 39, 122.

(4) https://ttdn.vn, Tô Lâm (2025), Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước, đăng ngày 12-11-2025.