Đảng Cộng sản Việt Nam – 96 năm kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Thứ ba, 03/02/2026 - 08:00

Tóm tắt: Trong suốt 96 năm kể từ khi ra đời (1930–2026), Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội như một nguyên tắc xuyên suốt trong lãnh đạo cách mạng. Mục tiêu đó không chỉ xuất phát từ yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, mà còn là kết quả của quá trình tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Bài viết khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn bền vững của quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội từ khi ra đời đến nay.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh, đổi mới, hội nhập quốc tế.

Đặt vấn đề

Ngay từ khi ra đời (ngày 3/2/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính tất yếu lịch sử, phản ánh yêu cầu giải phóng dân tộc triệt để, đồng thời hướng tới một xã hội tiến bộ, nơi con người được giải phóng toàn diện. Trải qua 96 năm, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mục tiêu này luôn được Đảng kiên định, vận dụng linh hoạt và sáng tạo, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch gia tăng chống phá, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc tiếp tục khẳng định và làm rõ giá trị lý luận, thực tiễn của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố niềm tin, định hướng nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

1. Cơ sở lý luận của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc được đặt trong chỉnh thể của cách mạng vô sản thế giới. Ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, sự áp bức dân tộc gắn chặt với áp bức giai cấp, vì vậy cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa không thể tách rời quỹ đạo chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa. V.I. Lênin chỉ rõ: Các dân tộc thuộc địa muốn giành được độc lập thực sự phải gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc với con đường xã hội chủ nghĩa; nếu không, độc lập chỉ mang tính hình thức và dễ bị lệ thuộc trở lại. Có nghĩa, nếu dừng lại ở những hình thức độc lập mang tính chính trị, pháp lý mà không làm thay đổi căn bản quan hệ sản xuất và địa vị của quần chúng lao động, thì nền độc lập đó khó tránh khỏi nguy cơ lệ thuộc mới dưới những hình thức tinh vi hơn.

Từ đó, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải một cách khoa học mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và con đường xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc được xác định là điều kiện tiền đề, trong khi chủ nghĩa xã hội là nhân tố quyết định bảo đảm cho nền độc lập ấy được củng cố lâu dài, gắn với quyền làm chủ, tự do và hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động.

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể của Việt Nam. Từ thực tiễn những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước ở các quốc gia khác nhau, Người đi đến khẳng định tính tất yếu của con đường cách mạng vô sản đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"3 và "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"4

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là yêu cầu cấp bách, là khát vọng lớn nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam trong điều kiện mất nước; song, độc lập dân tộc không phải là đích đến cuối cùng. Nếu nền độc lập ấy không mang lại tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân thì sẽ không có giá trị thực tiễn. Quan điểm này được Người thể hiện rõ trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, đăng trên Báo Cứu quốc số 69, ngày 17/10/1945: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"2.

Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lâu dài mà còn là con đường duy nhất bảo đảm cho độc lập dân tộc được củng cố vững chắc, đồng thời hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong tư tưởng của Người, tồn tại trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự kết tinh sáng tạo giữa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, tinh hoa lý luận cách mạng khoa học và tổng kết sâu sắc thực tiễn đấu tranh cách mạng, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội qua các giai đoạn lịch sử

2.1. Giai đoạn 1930 -1945: Kiên định mục tiêu trong đấu tranh giành chính quyền

Ngay từ khi ra đời (3/2/1920), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập rõ ràng phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị năm 1930 nêu rõ nhiệm vụ tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự khẳng định sớm tính nhất quán của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong đường lối cách mạng Việt Nam.

Trong các cao trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945, mặc dù điều kiện lịch sử có nhiều biến động, Đảng luôn giữ vững mục tiêu chiến lược, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược cách mạng cho phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên định về mục tiêu và mềm dẻo về phương pháp đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của phong trào cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả trực tiếp của đường lối đúng đắn đó, mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ, bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

2.2. Giai đoạn 1945-1975: Kiên định mục tiêu trong kháng chiến và kiến quốc

Sau khi giành được chính quyền, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Trong bối cảnh đó, Đảng vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời từng bước xây dựng những nền tảng đầu tiên của chế độ mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng xác định rõ: độc lập dân tộc là mục tiêu tối thượng, nhưng con đường phát triển tất yếu của đất nước là chủ nghĩa xã hội. Việc tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng quan hệ sản xuất mới, phát triển văn hóa giáo dục ở miền Bắc sau năm 1954 là minh chứng sinh động cho sự kết hợp giữa nhiệm vụ kháng chiến và xây dựng xã hội mới.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tạo tiền đề lịch sử để cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

2.3. Giai đoạn từ 1986 đến nay: Kiên định mục tiêu trong công cuộc đổi mới và hội nhập

Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận và thực tiễn phát triển đất nước, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc đổi mới toàn diện. Tuy nhiên, đổi mới ở đây không đồng nghĩa với sự thay đổi mục tiêu chiến lược, mà là sự điều chỉnh phương thức, lộ trình và giải pháp nhằm hiện thực hóa hiệu quả hơn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh lịch sử mới.

Trên tinh thần đó, Đảng chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một mô hình phát triển vừa tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm vai trò định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm và mục tiêu của sự phát triển. Sự kiên định về nền tảng tư tưởng và mục tiêu chiến lược này tiếp tục được khẳng định nhất quán trong các kỳ Đại hội, đặc biệt là tại Đại hội XIII của Đảng với yêu cầu: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"1.

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 ước tăng khoảng 8,02%6, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại, trong đó khu vực dịch vụ và công nghiệp, xây dựng đóng vai trò chủ đạo, phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Cùng với đó, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế đã giảm xuống dưới 1%, còn tỷ lệ nghèo đa chiều đến năm 2024 chỉ khoảng 4,1% (OECD, 2025)5. Đặc biệt, chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2023 đạt mức 0,766, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có mức phát triển con người cao; so với năm 1990, chỉ số này đã tăng hơn 50%, cho thấy sự cải thiện toàn diện về tuổi thọ, giáo dục và mức sống của người dân (UNDP, 2024)7. Những kết quả này là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn và kiên định về con đường phát triển độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và trong điều kiện đổi mới và hội nhập hiện nay.

3. Giá trị lý luận và thực tiễn của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay

3.1. Giá trị định hướng chiến lược phát triển đất nước

Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục giữ vai trò là định hướng chiến lược xuyên suốt, giúp Việt Nam bảo đảm vững chắc độc lập, tự chủ, không bị cuốn vào sự lệ thuộc về kinh tế, chính trị hay an ninh, đồng thời chủ động tham gia vào các tiến trình hợp tác và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn cho thấy, kiên định mục tiêu này không làm hạn chế, mà trái lại, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu rộng. Việt Nam đã tham gia và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA thế hệ mới). Nổi bật là: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương -CPTPP; Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA; Hiệp định Thương mại Tự do Vương quốc Anh, Việt Nam - UKVFTA; đồng thời không ngừng mở rộng và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với các quốc gia và tổ chức quốc tế lớn. Tính đến cuối tháng 1 năm 2026, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 đối tác, bao gồm 14 quốc gia và Liên minh châu Âu (EU), qua đó góp phần nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

3.2. Cơ sở lý luận để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Những thành tựu nêu trên cho thấy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không phải là khẩu hiệu trừu tượng, mà là một lựa chọn chiến lược đúng đắn, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn phát triển đất nước. Chính sự lãnh đạo kiên định và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; giữa hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ quốc gia, qua đó hiện thực hóa mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Các luận điệu phản bác phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời độc lập dân tộc khỏi chủ nghĩa xã hội, chúng cho rằng Việt Nam "đi chệch hướng" hay "từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa" … đều trái với thực tiễn lịch sử Việt Nam. Chính thực tiễn 96 năm cách mạng Việt Nam là minh chứng thuyết phục nhất, là bằng chứng thực tiễn không thể phủ nhận, trực tiếp bác bỏ những quan điểm sai trái đó.

Hơn thế nữa, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay tiếp tục là nguồn động lực tinh thần to lớn, hun đúc tinh thần, ý chí khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Kết luận

Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn lịch sử đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những thành tựu phát triển kinh tế xã hội đạt được trong thời kỳ đổi mới, được cộng đồng quốc tế ghi nhận thông qua các chỉ số phát triển và xếp hạng uy tín, càng khẳng định giá trị bền vững của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển phù hợp với quy luật và thực tiễn Việt Nam.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.12, tr.30.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.12, tr.563.

3. Hồ Chí Minh (1945), "Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, đăng Báo Cứu quốc số 69 (17/10/1945)". In lại trong: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4: 1945–1946. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, 2023.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Tổng cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và cả năm 2025. Hà Nội.

6. Organisation for Economic Co-operation and Development. (2025). OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. Paris: OECD Publishing.

7. United Nations Development Programme. (2024). Human Development Report 2023/2024. New York: UNDP.

ThS. Phạm Khánh Phương

Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ