Dựa trên nền tảng lý luận, pháp lý và bối cảnh đặc thù của một tỉnh miền núi, biên giới, đa dân tộc, bài viết làm rõ những thành tựu nổi bật trong công tác bảo tồn di sản, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; đồng thời nhận diện thẳng thắn các rào cản còn tồn tại về hạ tầng, ngôn ngữ, kinh tế và "khoảng cách số". Từ đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa, hướng tới sự phát triển bao trùm theo đúng tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Đề án số 14 của Tỉnh ủy Lào Cai.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn hóa không chỉ là nhu cầu tinh thần thiết yếu mà còn là một quyền cơ bản của mọi công dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển bứt phá của kinh tế - xã hội và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, sự chênh lệch trong cơ hội tiếp cận và thụ hưởng văn hóa đang bộc lộ ngày càng rõ, đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thương. Tại một tỉnh miền núi biên giới như Lào Cai - nơi hội tụ đa dạng văn hóa, đa dân tộc - bài toán này càng mang tính cấp thiết và phức tạp.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu phải mở rộng khả năng tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của Nhân dân, đặc biệt quan tâm đến các nhóm yếu thế. Cụ thể hóa định hướng chiến lược này, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Đề án 14 "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển". Với mong muốn đóng góp thêm góc nhìn thực tiễn, bài tham luận này sẽ tập trung nhận diện bức tranh toàn cảnh về thực trạng thụ hưởng văn hóa của 4 nhóm yếu thế tại địa phương (người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số); qua đó đề xuất hệ thống các giải pháp khả thi để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực bao trùm, hiện thực hóa mục tiêu "không để ai bị bỏ lại phía sau".
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BÌNH ĐẲNG TRONG THỤ HƯỞNG VĂN HOÁ CHO NHÓM YẾU THẾ
1.1. Quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà nước
Quyền thụ hưởng văn hoá là một trong những quyền cơ bản của con người, được pháp luật Việt Nam ghi nhận. Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: Điều 41 "Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hoá, sử dụng các cơ sở văn hoá"; Điều 60 cũng khẳng định "Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại".
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, đặt ra yêu cầu "đảm bảo đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hoá, tiếp cận bình đẳng văn hoá" đối với mọi tầng lớp nhân dân. Nghị quyết yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, đồng thời xác định việc mở rộng tiếp cận văn hoá cho nhóm yếu thế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt nhấn mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số nhằm xóa bỏ khoảng cách số trong lĩnh vực văn hoá.
Triển khai chủ trương của Trung ương, Tỉnh uỷ Lào Cai đã ban hành Đề án 14 ngày 29/12/2025 "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển giai đoạn 2026-2030". Đây là văn kiện quan trọng xác định hệ thống giải pháp, lộ trình và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bao gồm cả việc mở rộng tiếp cận văn hoá cho các nhóm yếu thế.
1.2. Khái niệm về nhóm yếu thế và bình đẳng văn hoá
Nhóm yếu thế là những cộng đồng, tầng lớp dân cư dễ bị tổn thương, chịu nhiều hạn chế về điều kiện kinh tế - xã hội hoặc thể chất, dẫn đến những khó khăn, rào cản trong việc tiếp cận các quyền và dịch vụ cơ bản. Trong bối cảnh thực tiễn tại tỉnh Lào Cai, có bốn nhóm yếu thế tiêu biểu cần được đặc biệt quan tâm trong các chính sách văn hoá: Đồng bào dân tộc thiểu số (đối mặt với rào cản về ngôn ngữ, địa lý và nguy cơ mai một văn hóa đặc thù); người nghèo (bị hạn chế bởi chi phí và khoảng cách kinh tế); người khuyết tật (gặp rào cản về thể chất, không gian di chuyển và tiếp nhận thông tin); và trẻ em, đặc biệt là trẻ em vùng cao (thiếu hụt hạ tầng, điều kiện học tập và môi trường sinh hoạt văn hoá lành mạnh).
Bình đẳng trong thụ hưởng văn hoá không có nghĩa là cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ văn hoá cào bằng cho tất cả mọi người. Thay vào đó, đây là nguyên tắc bảo đảm mỗi cá nhân, bất kể xuất phát điểm hay hoàn cảnh, đều có cơ hội tiếp cận, sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hoá một cách phù hợp với nhu cầu và đặc điểm riêng của mình. Bình đẳng văn hoá đòi hỏi các chính sách can thiệp mang tính đặc thù - ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các nhóm đang chịu nhiều thiệt thòi nhằm tạo ra sự công bằng thực chất. Khái niệm này hoàn toàn thống nhất với triết lý phát triển bao trùm của Đề án 14; trong đó, việc bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa chính là bước đệm thiết yếu để trao quyền cho các nhóm yếu thế, giúp họ không chỉ là người tiếp nhận mà còn trở thành chủ thể trực tiếp bảo vệ, thực hành và hưởng lợi từ chiến lược "biến di sản thành tài sản".
2. THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG TRONG THỤ HƯỞNG VĂN HOÁ CHO CÁC NHÓM YẾU THẾ Ở LÀO CAI
2.1. Khái quát đặc điểm của các nhóm yếu thế tại Lào Cai
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh miền núi biên giới như Lào Cai, việc bảo đảm an sinh xã hội cho các đối tượng yếu thế luôn là nhiệm vụ trọng tâm. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4 nhóm yếu thế tiêu biểu cần được đặc biệt quan tâm, bao gồm: đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người khuyết tật và trẻ em. Dù mang những đặc thù và khó khăn riêng biệt, song điểm chung của các nhóm đối tượng này là đều đối mặt với nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản và chịu thiệt thòi về quyền bình đẳng hưởng thụ các giá trị văn hóa. Việc nhận diện khái quát đặc điểm của 4 nhóm này là cơ sở thực tiễn quan trọng để hoạch định các chính sách hỗ trợ và can thiệp phù hợp:
Về đồng bào dân tộc thiểu số: Với quy mô dân số 1.778.785 người sinh sống tại 99 xã, phường của tỉnh Lào Cai, chính là nơi hội tụ của 34 nhóm ngành dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 57,6%. Đặc điểm cư trú đan xen tại các địa bàn vùng cao, địa hình chia cắt đã kiến tạo cho tỉnh một kho tàng di sản văn hóa bản địa phong phú, nguyên sơ và mang đậm bản sắc vùng biên. Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa vô giá và đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là nhóm dễ bị tổn thương do những rào cản về địa lý, cơ sở hạ tầng và xuất phát điểm kinh tế thấp. Thực trạng này không chỉ hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ công mà còn tạo ra sự chênh lệch lớn về đời sống tinh thần. Do đó, việc tháo gỡ khó khăn, đầu tư hạ tầng đồng bộ là yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo quyền bình đẳng cho đồng bào trong việc tiếp cận, hưởng thụ các giá trị văn hóa và các thiết chế văn hóa hiện đại; từ đó tạo nền tảng vững chắc để họ tiếp tục bảo tồn và phát huy vốn di sản truyền thống quý giá.
Về người nghèo: tính đến hết năm 2025, toàn tỉnh vẫn còn 22.944 hộ nghèo (chiếm 5,5%), 24.685 hộ cận nghèo (chiếm 5,93%) và nhiều hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ kịp thời. Những gánh nặng về sinh kế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống cơ bản mà còn là rào cản lớn, khiến các hộ gia đình này gặp nhiều thiệt thòi, hạn chế trong việc tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa, tinh thần. Chính vì vậy, song song với các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, việc quan tâm đầu tư thiết chế văn hóa cơ sở và đưa các chương trình văn hóa, nghệ thuật về vùng sâu, vùng xa là vô cùng cấp thiết. Điều này nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch, giúp người nghèo không chỉ vơi bớt khó khăn về vật chất mà còn được chăm lo về đời sống tinh thần, đảm bảo quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa, từ đó tạo thêm động lực và niềm tin để họ vươn lên thoát nghèo.
Về người khuyết tật: tính đến hết tháng 12/2025, toàn tỉnh Lào Cai có 24.371 người khuyết tật (chiếm 1,38% dân số), trong đó chủ yếu là người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng (hơn 21.900 người). Phần lớn người khuyết tật sinh sống tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, dẫn đến nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm, cũng như hạn chế trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và đời sống tinh thần. Nhận thức rõ ý nghĩa nhân văn sâu sắc và trách nhiệm chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai đã quyết liệt chỉ đạo triển khai Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật một cách đồng bộ, sát với thực tiễn địa phương. Các cấp ủy đảng đã chủ động đưa công tác người khuyết tật vào chương trình hành động hằng năm, gắn liền với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững và tạo điều kiện để người khuyết tật được phát triển toàn diện, bình đẳng tham gia hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đồng thời, công tác tuyên truyền cũng được triển khai sâu rộng, linh hoạt qua mạng lưới báo cáo viên, hệ thống truyền thanh cơ sở và các nền tảng số nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội.
Về trẻ em: tỉnh Lào Cai, theo số liệu công bố của Sở Y tế tỉnh Lào Cai, đến tháng 5/2026 trẻ em chiếm 28,1% dân số (hơn 471.000 em) và luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc sâu sắc từ chính quyền cùng cộng đồng. Tuy nhiên, bức tranh về trẻ em tại tỉnh vẫn còn nhiều trăn trở khi hơn 79.000 em đang sống trong hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo, cận nghèo và đối mặt với các rủi ro như tai nạn, bạo lực hay cạm bẫy từ không gian mạng. Thực trạng này đòi hỏi sự chung tay quyết liệt hơn nữa từ gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, trang bị kỹ năng sống và tạo điều kiện để các em được hưởng thụ các giá trị văn hóa; qua đó kiến tạo môi trường an toàn, lành mạnh giúp mọi trẻ em Lào Cai phát triển toàn diện, vững bước vào kỷ nguyên số mà không ai bị bỏ lại phía sau.
2.2. Kết quả đạt được trong bảo đảm bình đẳng thụ hưởng văn hoá đối với đối với các nhóm yếu thế: người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai
Thứ nhất, bảo tồn di sản văn hóa là nền tảng kiến tạo cơ hội thụ hưởng bình đẳng cho các nhóm yếu thế. Với hệ thống di sản đồ sộ (04 di sản UNESCO, 56 di sản quốc gia, 207 di tích) cùng nguồn lực xã hội hóa mạnh mẽ (đạt hơn 120 tỷ đồng năm 2024), công tác bảo tồn tại Lào Cai đã vượt khỏi khuôn khổ giữ gìn thuần túy để mang lại giá trị phát triển bao trùm. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc bảo tồn giúp củng cố niềm tự hào và khẳng định vị thế của người làm chủ di sản; với người nghèo, di sản được chuyển hóa thành sinh kế thông qua du lịch cộng đồng giúp cải thiện thu nhập; với trẻ em, không gian di tích trở thành môi trường giáo dục trực quan, bảo đảm sự trao truyền văn hóa giữa các thế hệ và với người khuyết tật, nguồn thu từ xã hội hóa tạo dư địa để tái đầu tư hạ tầng tiếp cận không rào cản, giúp họ vượt qua giới hạn thể chất để bình đẳng tham gia đời sống văn hóa cộng đồng.
Thứ hai, xây dựng con người gắn với bản sắc văn hóa là cốt lõi để nâng cao chỉ số hạnh phúc và kiến tạo môi trường thụ hưởng bao trùm. Thông qua các phong trào "Trường học hạnh phúc", "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa...", Lào Cai đã đạt những dấu ấn nổi bật: 85,5% gia đình văn hóa; 77,5% thôn/tổ dân phố văn hóa; 39,5% người tập thể thao thường xuyên, góp phần đưa chỉ số hạnh phúc năm 2025 lên 68,3% (tăng 10,29% so với 2020). Thành quả này trực tiếp thúc đẩy sự bình đẳng văn hóa cho các nhóm yếu thế: Với đồng bào dân tộc thiểu số, hệ thống thiết chế cơ sở trở thành không gian thiết thực để tiếp nhận thông tin và trực tiếp thực hành, bảo tồn di sản; với người nghèo, sự gắn kết từ các phong trào cộng đồng kiến tạo một "mạng lưới an sinh tinh thần" vững chắc, tiếp thêm động lực thoát nghèo; với trẻ em, mô hình trường học và sân chơi hạnh phúc mang lại môi trường an toàn để rèn luyện thể chất, nuôi dưỡng tinh thần và với người khuyết tật, môi trường văn hóa đang dịch chuyển theo hướng hòa nhập, không rào cản giúp họ xóa bỏ mặc cảm, tự tin tham gia sinh hoạt cộng đồng và khẳng định giá trị bản thân.
Thứ ba, về hạ tầng thiết chế văn hoá - thể thao: Hệ thống thiết chế văn hoá - thể thao được đầu tư đồng bộ, từ cấp tỉnh đến cơ sở. Đến nay 91% xã, phường và 98% thôn, tổ dân phố có nhà văn hoá; hoạt động của trên 2.150 đội văn nghệ và gần 2.300 câu lạc bộ thể dục thể thao góp phần duy trì đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, bền vững. Gắn với nhóm yếu thế: Hệ thống thiết chế cơ sở này đóng vai trò là những "không gian văn hóa bao trùm". Phủ sóng 98% nhà văn hóa thôn/bản đồng nghĩa với việc người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng lõi nghèo có địa điểm sinh hoạt cộng đồng miễn phí, thu hẹp sự chênh lệch về điều kiện hưởng thụ so với khu vực đô thị. Sự phát triển của các câu lạc bộ, đội văn nghệ tạo môi trường sinh hoạt thân thiện, giúp người khuyết tật và trẻ em có không gian an toàn để giao lưu, bộc lộ năng khiếu, từ đó xóa bỏ rào cản tâm lý và sự tự ti, mặc cảm.
Thứ tư, về hạ tầng viễn thông và tiếp cận thông tin số: Năm 2024, hạ tầng viễn thông tỉnh Lào Cai phủ sóng di động 3G, 4G đến 100% trung tâm xã; hạ tầng mạng cáp quang triển khai đến 1.512/1.556 thôn, tổ dân phố. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh đã hoàn thành phủ sóng 49 thôn, bản lõm sóng, giảm số thôn lõm sóng từ 65 xuống còn 16 thôn. Đây là nền tảng quan trọng để người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận thông tin và nội dung văn hoá số. Với nỗ lực xóa các "vùng lõm sóng" chính là hành động thiết thực nhất để "xóa bỏ khoảng cách số" cho nhóm yếu thế. Nhờ đó, đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các sản phẩm văn hóa điện tử, dịch vụ công trực tuyến và tri thức mới. Đặc biệt, hạ tầng cáp quang giúp trẻ em vùng cao tiếp cận các kho học liệu số, giải trí lành mạnh, tạo nền tảng tri thức vững chắc để các em không bị tụt hậu trong kỷ nguyên số.
Thứ năm, văn hóa đối ngoại và hội nhập quốc tế là đòn bẩy phát triển kinh tế, kiến tạo giá trị bao trùm cho các nhóm yếu thế. Thông qua các hoạt động hợp tác với Vân Nam (Trung Quốc), vùng Nouvelle Aquitaine (Pháp), Ấn Độ và các chương trình nghệ thuật xuyên biên giới (tiêu biểu như "Giao lưu văn nghệ Chào Xuân qua biên giới"), Lào Cai đã phát huy mạnh mẽ vai trò "ngoại giao văn hóa". Việc chuyển hóa bản sắc văn hóa địa phương thành nguồn lực cốt lõi để phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch cộng đồng không chỉ nâng cao vị thế của tỉnh mà còn mang lại tác động sâu sắc cho các nhóm yếu thế: Với đồng bào dân tộc thiểu số giúp các em, các mế, các nghệ nhân trở thành "đại sứ văn hóa", trực tiếp tham gia giao lưu và lan tỏa bản sắc dân tộc ra thế giới; qua đó củng cố niềm tự hào và vị thế làm chủ văn hóa; với người nghèo thì dòng khách du lịch quốc tế và sự phát triển của các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp mở ra không gian sinh kế mới, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định giúp họ vươn lên thoát nghèo; với trẻ em thì quá trình hội nhập mang đến môi trường giáo dục đa chiều, giúp trẻ em vùng cao vừa được bồi đắp tình yêu với di sản quê hương, vừa có cơ hội tiếp xúc với tri thức và sự đa dạng văn hóa toàn cầu từ sớm và đối với người khuyết tật thì nguồn thu từ công nghiệp văn hóa và sự hỗ trợ từ các dự án hợp tác quốc tế tạo dư địa ngân sách để tỉnh tái đầu tư hạ tầng du lịch, xây dựng không gian giao lưu không rào cản, giúp người khuyết tật bình đẳng tham gia vào chuỗi giá trị hội nhập.
Thứ sáu, phát triển không gian tri thức và truyền thông đa ngôn ngữ là chìa khóa bảo đảm quyền thụ hưởng thông tin bình đẳng. Việc đẩy mạnh các chương trình phát thanh - truyền hình tiếng dân tộc (Mông, Dao, Giáy) với độ phủ sóng cao, kết hợp cùng hệ thống không gian tri thức số, xe thư viện lưu động "Ánh sáng tri thức", mô hình "Gia đình đọc sách" và tủ sách cộng đồng đã tạo ra kênh tiếp cận văn hóa sâu rộng, tác động trực tiếp đến các nhóm yếu thế: Với đồng bào dân tộc thiểu số việc tiếp nhận thông tin bằng chính tiếng mẹ đẻ giúp hiện thực hóa "quyền được thông tin", xóa bỏ rào cản ngôn ngữ (đặc biệt với người lớn tuổi, phụ nữ vùng cao), giúp đồng bào thụ hưởng các giá trị văn hóa một cách gần gũi và tự nhiên nhất; với người nghèo kênh truyền thông đa phương tiện và các tủ sách cộng đồng giúp họ dễ dàng tiếp thu kiến thức mới, thấu hiểu tường tận các chính sách hỗ trợ sinh kế; từ đó được tiếp thêm tri thức và động lực tinh thần để vươn lên thoát nghèo; với trẻ em thì mô hình "Gia đình đọc sách" và những chuyến xe "Ánh sáng tri thức" mang nguồn sáng văn hóa đến tận các bản làng xa xôi, bồi đắp thói quen đọc sách và kiến tạo không gian giáo dục, giải trí bình đẳng cho trẻ em vùng khó khăn và đối với người khuyết tật: Sự phát triển của các nền tảng tri thức số cùng hệ thống phát thanh, truyền hình phủ sóng rộng khắp giúp những người hạn chế về khả năng vận động vượt qua rào cản thể chất, dễ dàng cập nhật thông tin và làm phong phú đời sống tinh thần ngay tại nhà.
2.3. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại
Thứ nhất, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập. Dưới tác động của đô thị hóa và lối sống hiện đại, các giá trị văn hóa cốt lõi (tiếng nói, chữ viết, trang phục, phong tục) đang đối mặt với thách thức lớn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em vùng cao, làm suy yếu sự gắn kết thế hệ và dẫn đến nguy cơ đứt gãy trong việc trao truyền di sản văn hóa.
Thứ hai, hạ tầng thiết chế văn hóa chưa thực sự bao trùm và thân thiện với người khuyết tật. Phần lớn các nhà văn hóa ở cơ sở được xây dựng từ lâu, thiếu vắng các thiết kế không rào cản (lối đi cho xe lăn, tiện ích cho người khiếm thị/khiếm thính). Các sự kiện văn hóa cộng đồng cũng hiếm khi có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu hay tài liệu chữ nổi, khiến người khuyết tật vô hình trung bị cô lập và gặp nhiều rào cản khi tham gia sinh hoạt cộng đồng.
Thứ ba, sự chênh lệch lớn về mức thụ hưởng văn hóa giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa. Trong khi khu vực trung tâm sở hữu hệ thống thiết chế đầy đủ, thì tại các xã vùng sâu vùng xa như: Y Tý, A Mú Sung, Lùng Phình, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Phong Dụ Thượng… các thiết chế văn hóa còn đơn sơ, nghèo nàn. Sự thiếu hụt các công trình biểu tượng và không gian văn hóa đặc trưng khiến người nghèo, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số ở các khu vực này chịu nhiều thiệt thòi trong việc thụ hưởng đời sống tinh thần chất lượng cao.
Thứ tư, rào cản ngôn ngữ làm hạn chế việc tiếp cận thông tin và văn hóa. Dù sở hữu hơn 25 ngôn ngữ dân tộc, phần lớn các ấn phẩm, chương trình nghệ thuật và nội dung số hiện nay chủ yếu sử dụng tiếng Việt. Sự thiếu hụt các sản phẩm văn hóa bằng tiếng mẹ đẻ (đặc biệt đối với các dân tộc ít người như Mông, Dao, Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ…) đã hạn chế khả năng tiếp nhận tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là nhóm người lớn tuổi và phụ nữ.
Thứ năm, "khoảng cách số" ngày càng bộc lộ rõ nét. Dù hạ tầng mạng đã được cải thiện (phủ sóng 4G đến 100% trung tâm xã; tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số có thiết bị truy cập internet tăng mạnh lên 85,6% năm 2025 so với 6,5% năm 2015), toàn tỉnh vẫn còn các thôn lõm sóng, trắng sóng và chưa có internet băng rộng. Đáng lo ngại hơn, việc sở hữu thiết bị chưa đi liền với kỹ năng số, khiến người lớn tuổi, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số khó tiếp cận các dịch vụ công và kho tàng văn hóa trực tuyến, dễ bị gạt ra ngoài lề của kỷ nguyên số.
Thứ sáu, bất cập trong nguồn nhân lực làm công tác văn hóa cơ sở. Việc phân bổ cán bộ văn hóa chưa đồng đều, trình độ chuyên môn và kỹ năng đặc thù (như hiểu biết phong tục tập quán bản địa, kỹ năng làm việc với người khuyết tật) còn nhiều hạn chế. Điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả tổ chức, vận động và định hướng các phong trào văn hóa dành riêng cho các nhóm yếu thế tại cộng đồng. Bên cạnh đó, khó khăn trong công tác xã hội hóa và huy động nguồn lực. Nguồn kinh phí tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật hỗ trợ cho các nhóm đối tượng yếu thế hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước. Việc chưa có cơ chế đủ mạnh để thu hút sự tham gia bền vững từ doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khiến các chương trình hỗ trợ người nghèo, người khuyết tật và trẻ em còn hạn chế về quy mô, tần suất và tính đa dạng.
3. NGUYÊN NHÂN VÀ THÁCH THỨC
3.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, về nhận thức và nguồn lực đầu tư: Nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền địa phương về lĩnh vực văn hoá còn hạn chế, chưa thực sự quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển văn hoá, con người một cách đúng mức, đôi khi vẫn coi văn hóa là yếu tố "thứ yếu" so với phát triển kinh tế đã dẫn đến tình trạng nguồn lực đầu tư cho văn hoá ở cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu thực tiễn. Đây là nguyên nhân chủ quan cốt lõi hàng đầu dẫn đến những hạn chế hiện nay.
Thứ hai, về cơ chế trao truyền và đứt gãy thế hệ: Hiện nay, tỉnh chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp để khuyến khích các nghệ nhân tổ chức trao truyền văn hoá truyền thống cho các thế hệ trẻ. Đồng thời, nhu cầu tìm hiểu, thực hành văn hoá bản địa trong giới trẻ không cao. Sự đứt gãy này làm gia tăng nguy cơ mai một di sản văn hoá phi vật thể, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thụ hưởng văn hoá của cộng đồng.
Thứ ba, về tính bao trùm của thiết chế và chiều sâu của hệ giá trị: Việc lồng ghép tiêu chí thiết kế tiếp cận phổ quát trong xây dựng thiết chế văn hoá chưa được chú trọng đúng mức; nhiều công trình mới thiếu vắng các tiện ích cơ bản cho người khuyết tật (đường dốc, thang máy, hệ thống âm thanh hỗ trợ, khu vệ sinh chuyên biệt). Bên cạnh đó, quá trình xây dựng con người Lào Cai với các phẩm chất đặc trưng (đoàn kết, yêu nước, kỷ cương, văn minh, hiếu khách, nhân ái, sáng tạo, hội nhập) mới được triển khai trong một nhiệm kỳ, dẫn đến các giá trị văn hoá này chưa thực sự thấm sâu, bám rễ và lan tỏa rộng khắp trong đời sống xã hội.
3.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, về điều kiện địa lý tự nhiên: Địa hình chia cắt phức tạp và dân cư phân tán là rào cản mang tính nội tại của Lào Cai. Tại nhiều địa phương có địa hình hiểm trở (như Mường Khương, Si Ma Cai, Bát Xát, Bắc Hà, Trạm Tấu, Mù Cang Chải…), việc đầu tư hạ tầng văn hoá đồng đều đến từng thôn, bản đặt ra thách thức vô cùng lớn về nguồn lực. Đây là yếu tố khách quan chi phối trực tiếp đến mọi nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hoá giữa đô thị và vùng cao.
Thứ hai, về tác động của hội nhập và bùng nổ công nghệ: Quá trình thương mại hoá, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, kết hợp với sự phát triển không ngừng của công nghệ số đã khiến việc kiểm soát các luồng văn hoá ngoại lai xâm nhập vào vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn. Hệ lụy tất yếu là một số di sản, nét đẹp văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ mai một cao.
Thứ ba, về rào cản kinh tế và giới hạn ngân sách: Trình độ phát triển kinh tế nhìn chung còn thấp là rào cản căn bản nhất. Khi các nhu cầu sinh kế thiết yếu chưa được đảm bảo trọn vẹn, người dân vùng khó khăn chưa có điều kiện để quan tâm và chi trả cho các nhu cầu văn hoá. Kéo theo đó, ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển văn hoá, con người cũng còn hạn hẹp, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển ngày càng nhanh và hiện đại của xã hội.
4. GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG TRONG THỤ HƯỞNG VĂN HOÁ CHO CÁC NHÓM YẾU THẾ Ở LÀO CAI
Nhằm khắc phục triệt để những tồn tại, rào cản đã được chỉ ra, đồng thời tiếp tục củng cố và phát huy các thành quả đạt được, việc xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ trong thời gian tới là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu cốt lõi là từng bước tháo gỡ khó khăn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, kiến tạo một môi trường văn hóa bao trùm, bảo đảm quyền thụ hưởng bình đẳng cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, trẻ em và người khuyết tật theo đúng phương châm phát triển bền vững: "không để ai bị bỏ lại phía sau". Cụ thể, hệ thống các giải pháp trọng tâm bao gồm:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và lồng ghép chính sách đặc thù cho các nhóm yếu thế. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này, trước hết cần khẩn trương đồng bộ hóa hệ thống tiêu chí thông qua việc xây dựng và ban hành bộ đánh giá mức độ tiếp cận văn hóa chuyên biệt cho bốn nhóm đối tượng yếu thế. Trong đó, yêu cầu bắt buộc là phải áp dụng tiêu chuẩn "thiết kế phổ quát" đối với 100% dự án xây dựng mới hoặc cải tạo thiết chế văn hóa, qua đó tháo gỡ triệt để các rào cản vật lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người khuyết tật. Song song với việc hoàn thiện bộ tiêu chí, tỉnh cần sớm ban hành các chính sách hỗ trợ trực tiếp, mang tính thiết thực cao như cơ chế ưu đãi, miễn hoặc giảm phí tham gia các dịch vụ, sự kiện văn hóa, thể thao dành riêng cho người nghèo, người khuyết tật và trẻ em tại các khu vực đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, để các cơ chế, chính sách trên thực sự đi vào đời sống, khâu lồng ghép nguồn lực đóng vai trò then chốt. Cần ưu tiên phân bổ nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, để tập trung đầu tư nâng cấp thiết chế văn hóa cơ sở. Đồng thời, tỉnh cần kiên quyết đảm bảo tỷ lệ chi ngân sách cho văn hóa đạt tối thiểu 2% tổng chi ngân sách theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW; trong đó, phải quy định rõ một tỷ lệ phân bổ "cứng" dành riêng cho các địa bàn vùng sâu, vùng xa nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách thụ hưởng.
Hai là, đầu tư hạ tầng văn hóa bao trùm, xóa bỏ rào cản thụ hưởng. Để hiện thực hóa mục tiêu này, giải pháp trọng tâm trước mắt là tập trung nguồn lực nâng cấp hệ thống thiết chế cơ sở, đặc biệt ưu tiên cho 10 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh. Quá trình này cần bổ sung ngay các hạng mục thiết yếu như đường dốc cho xe lăn, hệ thống âm thanh trợ thính nhằm hỗ trợ tối đa cho người khuyết tật; đồng thời chú trọng kiến tạo các không gian đọc sách, vui chơi an toàn, lành mạnh để phát triển thể chất và tinh thần cho trẻ em. Cùng với thiết chế cố định, tỉnh cần đẩy mạnh mạng lưới văn hóa lưu động thông qua việc tăng cường tần suất hoạt động của các "Đội văn hóa lưu động" kết hợp xe thư viện. Đây là cách làm thiết thực nhằm mang tri thức, thông tin sinh kế và các chương trình nghệ thuật đến tận các thôn, bản vùng cao, phục vụ trực tiếp người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số không có điều kiện đi lại. Ngoài ra, cần bám sát mục tiêu của Đề án 14 để từng bước xây dựng các công trình kiến trúc mang tính biểu tượng, tái hiện không gian văn hóa đặc trưng của các dân tộc (Mông, Dao, Tày...) tại khu vực đô thị, qua đó vừa tạo không gian sinh hoạt cộng đồng vừa hình thành điểm nhấn thu hút du lịch.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và truyền thông đa ngôn ngữ. Trong bối cảnh hiện nay, việc khẩn trương số hóa các tài liệu, kho tàng văn hóa dân gian như lễ hội, truyện kể, dân ca là yêu cầu tất yếu. Tỉnh cần đẩy mạnh sản xuất các chương trình phát thanh - truyền hình đa ngôn ngữ bằng tiếng dân tộc (Mông, Dao, Tày, Giáy...) để giúp đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người lớn tuổi và phụ nữ, được thụ hưởng trọn vẹn thông tin bằng chính tiếng mẹ đẻ. Song hành với quá trình số hóa nội dung, nhiệm vụ xóa "vùng lõm sóng" phải được thực hiện quyết liệt, đảm bảo tiến độ phủ sóng internet tại 100% thôn, bản trước năm 2026. Trên nền tảng hạ tầng đó, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng theo phương châm "cầm tay chỉ việc", trực tiếp tập huấn kỹ năng khai thác học liệu số, giải trí số an toàn cho trẻ em, đồng thời hướng dẫn tận tình để người khuyết tật, người nghèo có thể dễ dàng sử dụng các dịch vụ công và ứng dụng văn hóa trực tuyến.
Bốn là, phát huy nguồn lực cộng đồng và trao truyền di sản. Giải pháp này đòi hỏi phải kiên định nguyên tắc lấy cộng đồng làm trung tâm, trong đó chú trọng phát huy vai trò nòng cốt của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong việc dẫn dắt các sinh hoạt tín ngưỡng. Họ chính là cầu nối quan trọng nhất để đưa các chủ trương, chính sách văn hóa đến gần hơn với người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Kế tiếp, tỉnh cần xây dựng cơ chế đãi ngộ xứng đáng nhằm tri ân và hỗ trợ các nghệ nhân dân gian, khuyến khích họ mở lớp truyền dạy nghề thủ công, dân ca, dân vũ. Đi liền với đó là giải pháp ươm mầm thế hệ trẻ bằng cách đưa văn hóa bản địa vào trường học, tích hợp linh hoạt vào các giờ ngoại khóa để trẻ em vùng cao sớm hình thành ý thức tự hào và trách nhiệm với di sản dân tộc. Cuối cùng, mục tiêu bao trùm là phải biến "di sản" thành "tài sản" bằng cách gắn kết chặt chặt chẽ công tác bảo tồn với định hướng phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp; từ đó tạo ra không gian sinh kế bền vững, góp phần trực tiếp nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng đời sống cho người nghèo ngay tại chính các vùng lõi di sản.
KẾT LUẬN
Bảo đảm bình đẳng thụ hưởng văn hoá cho các nhóm yếu thế là một hành trình bền bỉ, mang tính then chốt và không thể trì hoãn trong tiến trình phát triển bền vững của tỉnh Lào Cai. Những dấu ấn ấn tượng trong giai đoạn 2021-2025 vừa qua - tiêu biểu như việc sở hữu 56 di sản quốc gia, 04 di sản UNESCO, 100% trung tâm xã phủ sóng 4G và đưa chỉ số hạnh phúc đạt 68,3% - chính là tiền đề thực tiễn vô cùng vững chắc. Dù vậy, bối cảnh đặc thù của địa phương đòi hỏi hệ thống chính trị phải tiếp tục ưu tiên phân bổ nguồn lực trọng điểm và có những cơ chế, chính sách chuyên biệt đủ mạnh.
Chỉ khi nào người khuyết tật được trải nghiệm không gian văn hóa không rào cản, người nghèo được tiếp cận trọn vẹn tri thức và nghệ thuật, trẻ em vùng cao được bồi đắp tâm hồn bằng chính di sản quê hương, và đồng bào dân tộc thiểu số tự hào làm chủ không gian văn hóa của chính mình; khi đó, văn hoá mới thực sự cắm rễ sâu bền. Đó chính là sức mạnh nội sinh và nguồn lực căn bản nhất để kiến tạo nên một Lào Cai đậm đà bản sắc, vững bước hội nhập và phát triển toàn diện trong kỷ nguyên mới, đúng như kỳ vọng mà Đề án 14 của Tỉnh ủy Lào Cai đã đề ra.
ThS. Hoàng Khắc Cương - Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2019), Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật.
2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam.
3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
4. Tỉnh uỷ Lào Cai (2025), Đề án số 14-ĐA/TU ngày 29/12/2025 "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển giai đoạn 2026-2030".
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Được đề cập làm cơ sở phân bổ nguồn lực).
6. Sở Y tế tỉnh Lào Cai (2026), Số liệu thống kê về dân số và trẻ em tỉnh Lào Cai (công bố tháng 5/2026).
7. Cơ quan thống kê/UBND tỉnh Lào Cai (2025), Số liệu thống kê về hộ nghèo, hộ cận nghèo toàn tỉnh tính đến hết năm 2025.
8. Cơ quan thống kê/UBND tỉnh Lào Cai (2025), Số liệu thống kê người khuyết tật trên địa bàn tỉnh tính đến hết tháng 12/2025.
9. UBND tỉnh Lào Cai (2024-2025), Báo cáo kết quả đầu tư hạ tầng viễn thông, thiết chế văn hoá và tỷ lệ phủ sóng internet tại các thôn, bản, tổ dân phố.
10. UBND tỉnh Lào Cai (2025), Báo cáo đánh giá Chỉ số hạnh phúc của người dân tỉnh Lào Cai năm 2025 so với năm 2020.