Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – những định hướng chiến lược quan trọng đối với cách mạng Việt Nam

Thứ hai, 25/05/2026 - 09:00

Tóm tắt: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam. Không chỉ thể hiện tư tưởng, đạo đức và tầm nhìn chiến lược của Người, Di chúc còn chứa đựng những định hướng quan trọng về xây dựng Đảng, phát triển đất nước, chăm lo đời sống nhân dân, bồi dưỡng thế hệ cách mạng và tăng cường đoàn kết quốc tế. Trải qua hơn nửa thế kỷ, những giá trị tư tưởng trong Di chúc vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Bài viết tập trung phân tích những nội dung cơ bản trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó làm rõ giá trị định hướng chiến lược của tác phẩm đối với cách mạng Việt Nam.

Từ khóa: Di chúc Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng Đảng; cách mạng Việt Nam; đoàn kết dân tộc.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những văn kiện đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam, kết tinh tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng và tình cảm sâu nặng của Người đối với Đảng, dân tộc và nhân dân. Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo từ năm 1965, bổ sung vào năm 1968 và tiếp tục chỉnh sửa trước lúc Người đi xa năm 1969. Đây không chỉ là lời căn dặn của một lãnh tụ cách mạng mà còn là văn kiện mang tầm chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều vấn đề trọng đại như xây dựng Đảng, chăm lo đời sống nhân dân, đào tạo thế hệ trẻ, củng cố đoàn kết quốc tế và định hướng phát triển đất nước sau chiến tranh. Những nội dung đó thể hiện tầm nhìn xa, tư duy chiến lược và niềm tin vững chắc của Người đối với tương lai dân tộc. Trải qua hơn nửa thế kỷ, Di chúc vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong Di chúc có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, Di chúc khẳng định niềm tin tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Một trong những nội dung nổi bật thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh đang diễn ra vô cùng ác liệt, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc, chiến trường miền Nam chịu nhiều tổn thất nặng nề, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ vững niềm tin son sắt vào sức mạnh của nhân dân và thắng lợi cuối cùng của cách mạng Việt Nam. Trước hết, ngay trong bản Di chúc viết năm 1965, Người đã dự báo: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài mấy năm nữa". Đến năm 1969, trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình cách mạng trong nước và quốc tế, Người tiếp tục khẳng định: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn" [1]. Những lời khẳng định đó không chỉ thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị của một lãnh tụ cách mạng mà còn phản ánh tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược và năng lực dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh niềm tin vào thắng lợi tất yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời nhìn nhận rất rõ tính chất lâu dài, khó khăn và sự hy sinh to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Người viết: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn" [2]. Điều đó cho thấy Người luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan của chiến tranh cách mạng, tuyệt đối không chủ quan hay duy ý chí. Tuy nhiên, vượt lên trên mọi khó khăn, thử thách, Người vẫn khẳng định quyết tâm sắt đá của toàn dân tộc: "Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn"; "Dù khó khăn gian khổ mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà". Những lời khẳng định này vừa thể hiện ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng thống nhất đất nước, vừa là lời hiệu triệu mạnh mẽ cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân kiên định mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hơn nữa, niềm tin tất thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mang tính chính trị mà còn được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc. Đó là kết quả của sự phân tích toàn diện tương quan lực lượng giữa ta và địch, nhận thức đúng đắn về xu thế phát triển của thời đại, đồng thời xuất phát từ niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Từ thực tiễn các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Người khẳng định một chân lý mang tính quy luật: một dân tộc đoàn kết, chiến đấu vì độc lập, tự do nhất định sẽ giành thắng lợi trước mọi thế lực xâm lược.

Thực tiễn lịch sử sau đó đã chứng minh tính đúng đắn trong dự báo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam; đến mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn, đất nước được thống nhất. Những thắng lợi đó không chỉ là minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh chính trị của Hồ Chí Minh mà còn khẳng định giá trị to lớn, bền vững của Di chúc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở dự báo thắng lợi của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định vị thế và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế sau thắng lợi cách mạng. Trong Di chúc, Người viết: "Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc" [3]. Điều đó thể hiện tầm nhìn quốc tế sâu rộng, đồng thời khẳng định vai trò và đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX. Từ đó có thể khẳng định, nội dung này trong Di chúc không chỉ phản ánh niềm tin tất thắng và ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam mà còn thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục có giá trị định hướng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, Di chúc nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng Đảng

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt và xuyên suốt đối với công tác xây dựng Đảng, thể hiện rõ qua lời mở đầu mang tính định hướng chiến lược: "TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG" [4]. Điều đó khẳng định vị trí trung tâm và vai trò then chốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở về yêu cầu xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ lịch sử, xứng đáng với vai trò là lực lượng lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trước hết, Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đoàn kết trong Đảng như một nguyên tắc có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức cách mạng. Người khẳng định: "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên ngay từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác" [5]. Đồng thời, Người nhấn mạnh: "Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta" [6]. Trên cơ sở thực tiễn lịch sử dân tộc và cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định đoàn kết chính là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, đánh bại các thế lực xâm lược có tiềm lực mạnh hơn nhiều lần. Từ đó, Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" [7], coi đoàn kết là tài sản tinh thần quý báu nhất và là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi của cách mạng. Tuy nhiên, để giữ vững và củng cố sự đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương thức cơ bản là phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình trong Đảng, gắn với xây dựng tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Người khẳng định: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng" [8]. Theo Người, dân chủ là điều kiện để phát huy trí tuệ tập thể, tự phê bình và phê bình là phương thức để sửa chữa khuyết điểm và củng cố sự thống nhất; đồng thời, tình đồng chí là nền tảng đạo đức để gắn kết con người trong tổ chức cách mạng. Như vậy, đoàn kết trong Đảng được xây dựng đồng thời trên cả nguyên tắc tổ chức và giá trị văn hóa, đạo đức của người cộng sản.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu rèn luyện đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Người yêu cầu: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [9]. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc nhằm bảo đảm bản chất cách mạng của Đảng, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ suy thoái, biến chất trong điều kiện cầm quyền. Quan niệm "người lãnh đạo, đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" thể hiện sự thống nhất giữa lãnh đạo và phục vụ, giữa quyền lực và trách nhiệm, qua đó khẳng định bản chất nhân dân sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy, những vấn đề về Đảng được đề cập trong Di Chúc là những vấn đề cốt lõi nhất đối với Đảng cộng sản cầm quyền, là sự tổng kết sâu sắc công tác xây dựng Đảng và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, Di chúc khẳng định đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là công việc thường xuyên của Đảng

Về thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh nhận xét: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ". Có thể thấy rằng, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người sớm thấy vai trò lịch sử và khả năng to lớn của thế hệ thanh niên đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Từ những năm 1920, trên diễn đàn tại Tua (pháp), Bác đã lớn tiếng phản đối chế độ thực dân gây ra những tội ác tày trời đối với nhân dân và thanh niên ta thông qua Bức thư gửi Thanh niên Việt Nam, Bản án chế độ thực dân Pháp, "Đường kách mệnh, Người căm phẫn lên án chế độ thực dân đầu độc, nô dịch, bóc lột, nhân dân bản sứ trước hết là thanh niên ta. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ rõ: Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần là do thanh niên. Thanh niên là chủ đất nước. Nhận thức vai trò chủ nhân tương lai đất nước của thanh niên. Bác căn dặn: "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa " hồng" vừa " chuyên" [10]. Người cũng nhấn mạnh: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết" [11] Đoàn viên thanh niên là đội hậu bị của Đảng, là tương lai của đất nước, vì vậy Đảng phải có kế hoạch đào tạo, giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ học vấn và khả năng chuyên môn, nghiệp vụ cho thanh niên. Điều này cũng thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm và niềm tin của Hồ Chí Minh giành cho thế hệ trẻ.

Thứ tư, Di chúc chỉ rõ nâng cao đời sống nhân dân là trách nhiệm trực tiếp của Đảng

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò và vị trí của nhân dân lao động, đồng thời khẳng định rõ trách nhiệm của Đảng trong việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Người, nhân dân lao động là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, trực tiếp tham gia lao động sản xuất, sáng tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần, qua đó góp phần quyết định sự phát triển của xã hội.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận sâu sắc thực trạng lịch sử của nhân dân ta, khi nhiều thế hệ phải chịu đựng cảnh áp bức, bóc lột dưới chế độ phong kiến và thực dân, đồng thời trải qua nhiều năm chiến tranh gian khổ. Người khẳng định: "Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh" [12]. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Người cũng trân trọng và đánh giá cao những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta, khi nhấn mạnh: "Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng" [13]. Từ những nhận định đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một nguyên lý có tính nền tảng của cách mạng: "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Theo Người, nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là động lực quyết định của cách mạng. Do đó, không có nhân dân lao động thì không thể có Đảng, cũng không thể có những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Ngược lại, Đảng chỉ có thể giữ vững vai trò lãnh đạo khi biết dựa vào nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, lãnh đạo và tổ chức được phong trào quần chúng rộng rãi.

Trên cơ sở đó, trong Di chúc, Người yêu cầu một cách rõ ràng và trực tiếp: "Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân" [14]. Đây là một chỉ dẫn có tính nguyên tắc, thể hiện sự thống nhất giữa mục tiêu chính trị và mục tiêu xã hội của cách mạng Việt Nam. Nâng cao đời sống nhân dân không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo và tính chính đáng của Đảng cầm quyền.

Có thể khẳng định rằng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc về nâng cao đời sống nhân dân thể hiện sâu sắc bản chất nhân văn của cách mạng Việt Nam. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn nhất quán mục tiêu cao nhất là mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Đây cũng chính là định hướng nền tảng để Đảng tiếp tục hoàn thiện đường lối phát triển, bảo đảm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" trong giai đoạn hiện nay.

Thứ năm, Di chúc xác định nhiệm vụ của Đảng ta phải góp phần khôi phục đoàn kết, thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Trong Di chúc, bên cạnh những nội dung về công tác xây dựng Đảng và sự nghiệp cách mạng trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đây là một nội dung thể hiện rõ tư tưởng quốc tế trong sáng và nhất quán của Người, đồng thời phản ánh tầm nhìn chiến lược vượt ra ngoài phạm vi quốc gia.

Là người hoạt động lâu năm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngay từ những năm 1920, Người đã khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Trong suốt các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu và hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng bạn bè tiến bộ trên toàn thế giới. Điều đó càng khẳng định tính tất yếu của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sự nghiệp cách mạng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xuất hiện những bất đồng, chia rẽ nội bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự trăn trở sâu sắc. Người viết: "Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay của các đảng anh em" [15]. Từ đó cho thấy, sự đoàn kết của phong trào cộng sản quốc tế không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp thiết của phong trào cách mạng thế giới.

Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc góp phần khôi phục và củng cố khối đoàn kết quốc tế. Người bày tỏ mong muốn: "Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình" [16]. Quan điểm này thể hiện rõ phương pháp tiếp cận vừa kiên định về nguyên tắc, vừa linh hoạt về cách thức giải quyết, đặt lợi ích chung của phong trào cách mạng thế giới lên trên những bất đồng riêng lẻ. Đồng thời, Người tin tưởng rằng tinh thần đoàn kết quốc tế sẽ được khôi phục và củng cố: " Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ đoàn kết lại" [17]. Niềm tin đó bắt nguồn từ bản chất nhân văn của chủ nghĩa quốc tế vô sản và từ quy luật vận động khách quan của phong trào cách mạng thế giới, nơi mà mục tiêu chung là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người luôn giữ vai trò chi phối.

Có thể nói, nội dung về đoàn kết quốc tế trong Di chúc không chỉ thể hiện tư tưởng quốc tế trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là sự khẳng định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phong trào cách mạng thế giới. Đây là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm giá trị lý luận của Di chúc trong bối cảnh hiện đại.

Thứ sáu, Di chúc xác định phương hướng, nhiệm vụ sau khi hòa bình lập lại, Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh

Trong Di chúc, trên cơ sở tầm nhìn chiến lược và niềm tin tất thắng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dự báo thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn chủ động phác thảo những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn sau chiến tranh. Điều này thể hiện tư duy toàn diện, tính dự báo khoa học và sự chuẩn bị chu đáo cho quá trình chuyển tiếp từ chiến tranh sang hòa bình, xây dựng đất nước.

Theo Người, sau khi hòa bình lập lại, nhiệm vụ xây dựng đất nước và hàn gắn vết thương chiến tranh là "một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp, khó khăn", do đó cần phải "có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh bị động, thiếu sót và sai lầm". Trước hết, Người nhấn mạnh yêu cầu chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và chi bộ đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Khi Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh thì mới có thể lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh.

Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng yếu tố con người trong toàn bộ tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Người chỉ rõ: trước hết phải quan tâm đến con người, đến mọi tầng lớp xã hội, không được bỏ sót bất kỳ đối tượng nào. Đối với cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong – những người đã hy sinh, cống hiến xương máu cho Tổ quốc - Đảng, Chính phủ và nhân dân phải có chính sách phù hợp để giúp họ ổn định cuộc sống, có nghề nghiệp và từng bước tự lực vươn lên. Đối với các liệt sĩ, Người đề nghị mỗi địa phương xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm để ghi nhớ công lao, qua đó giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau. Đối với gia đình thương binh, liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn, chính quyền cần quan tâm giúp đỡ thiết thực, bảo đảm cuộc sống ổn định, không để xảy ra tình trạng thiếu thốn, đói rét. Đồng thời, Người đặc biệt quan tâm đến thế hệ trẻ - lực lượng đã được rèn luyện trong chiến đấu. Đảng và Chính phủ cần lựa chọn những người ưu tú để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng trở thành cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ, phẩm chất và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đây được xác định là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ và nông dân trong giai đoạn mới. Đối với phụ nữ, cần có chính sách bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng nhiều vào các công việc xã hội, kể cả công tác lãnh đạo, đồng thời khuyến khích bản thân phụ nữ không ngừng vươn lên, qua đó thực hiện mục tiêu bình đẳng giới thực chất. Đối với nông dân - lực lượng đông đảo nhất trong xã hội - Người đánh giá cao những đóng góp to lớn của họ và đề nghị có chính sách phù hợp, như miễn giảm thuế nông nghiệp trong một thời gian nhất định để động viên sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân.

Trên phạm vi rộng hơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định hướng những nhiệm vụ cơ bản của công cuộc xây dựng đất nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và quốc phòng. Người nhấn mạnh yêu cầu khôi phục, mở rộng các ngành kinh tế, cải tiến chế độ giáo dục cho phù hợp với điều kiện mới, phát triển công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đồng thời củng cố quốc phòng, chuẩn bị điều kiện vững chắc cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Người lưu ý rằng đây là những nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sức mạnh của nhân dân, nhất định sẽ thực hiện được.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh như một "cuộc chiến đấu mới" - cuộc đấu tranh chống lại cái cũ kỹ, lạc hậu để xây dựng cái mới, tốt đẹp hơn. Do đó, cần phát huy tinh thần chủ động, tích cực, không chủ quan, coi nhẹ khó khăn. Người khẳng định: Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân. Quan điểm này tiếp tục khẳng định nhất quán tư tưởng lấy nhân dân làm gốc của Hồ Chí Minh, coi sức mạnh của nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

Có thể khẳng định rằng, những chỉ dẫn trong Di chúc về nhiệm vụ sau hòa bình không chỉ thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn mang giá trị định hướng sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, đặc biệt trong việc phát huy vai trò của Đảng, lấy nhân dân làm trung tâm và bảo đảm phát triển bền vững.

Thứ bảy, tấm gương đạo đức trong sáng của nhà cách mạng mẫu mực, suốt đời hy sinh vì hạnh phúc nhân dân

Sau khi trình bày những vấn đề trọng đại của đất nước và Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới dành phần cuối Di chúc để nói về bản thân mình. Cách sắp xếp đó thể hiện rõ tính nhất quán trong tư tưởng và đạo đức của Người, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Người là hiện thân tiêu biểu của tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng, "nâng niu tất cả chỉ quên mình", suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, mọi suy nghĩ và hành động đều hướng đến mục tiêu phụng sự nhân dân.

Là người trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bày tỏ sự hối tiếc về những gì đã qua, mà chỉ khiêm tốn nói lên một điều "tiếc": "không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa". Điều đó không chỉ thể hiện khát vọng cống hiến không ngừng nghỉ mà còn phản ánh nhân cách của một người cộng sản chân chính, luôn mong muốn được phục vụ nhân dân đến phút cuối cùng của cuộc đời.

Trong những lời căn dặn cuối cùng, Người đặc biệt nhấn mạnh lối sống giản dị, tiết kiệm, chống xa hoa, lãng phí. Người căn dặn: "Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, khỏi để lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân" [18]. Đồng thời, Người yêu cầu thi hài được hỏa táng, coi đây là hình thức văn minh, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội: "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Bao giờ ta có nhiều điện, thì ‘điện táng’ càng tốt hơn" [19]. Người còn thể hiện tư duy sinh thái và nhân văn sâu sắc khi đề xuất tro xương chia làm ba phần, chôn tại ba miền đất nước; mỗi nơi chọn một quả đồi để an táng, đồng thời trồng cây gây rừng, biến nơi an nghỉ thành không gian xanh, phục vụ đời sống cộng đồng. Những chỉ dẫn đó phản ánh tầm nhìn xa rộng và sự gắn bó sâu nặng của Người đối với đất nước và nhân dân ngay cả khi nghĩ về việc riêng của mình.

Không chỉ vậy, Di chúc còn thể hiện tình cảm bao la của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước, các cháu thanh niên và nhi đồng. Trong suốt cuộc đời mình, Người luôn quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân, không có sự phân biệt, với một tình thương yêu sâu sắc và nhất quán. Trước khi đi xa, Người vẫn dành tình cảm trọn vẹn cho nhân dân cả nước, đồng thời gửi lời chào thân ái tới bạn bè và thiếu niên, nhi đồng quốc tế. Điều đó khẳng định Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà còn là biểu tượng của tình hữu nghị và hòa bình giữa các dân tộc.

Khép lại Di chúc, điều Người để lại cũng chính là khát vọng chung của dân tộc Việt Nam: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" [20]. Đây không chỉ là lời căn dặn cuối cùng mà còn là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

Có thể nói, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử đặc biệt quan trọng, kết tinh tư tưởng, đạo đức và tầm nhìn chiến lược của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nội dung Di chúc thể hiện niềm tin tất thắng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, khẳng định những nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng Đảng, đặc biệt là đoàn kết và đạo đức cách mạng, đồng thời nhấn mạnh vai trò của nhân dân, thế hệ trẻ và tinh thần đoàn kết quốc tế. Bên cạnh đó, Di chúc còn khắc họa sâu sắc hình ảnh một lãnh tụ suốt đời hy sinh vì dân, sống giản dị, khiêm tốn và giàu tình yêu thương. Đây là di sản tư tưởng vô giá, có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay./

 ThS Đặng Thị Phương

Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1],[4],[5],[6],[7],[8],[9],[10][11],[12],[13],[14]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.621-622.

[2],[3] [15], [16] [17],[18]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.623.

[19]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.615.

[20]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.624.