Một là, hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển công nghiệp an ninh hiện đại
Đây là giải pháp tiên quyết mở đường cho các giải pháp khác thực hiện có hiệu quả, vì "Thể chế có thể hình dung như một con đường tạo hành lang thông thoáng cho "cỗ xe kinh tế" Việt Nam phát triển" [10]. Đại hội XIV cũng đã chỉ rõ: "Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật nhằm tăng cường năng lực quốc phòng, an ninh" [3, tr.278].

Nhiệm vụ cấp bách nhất là đẩy mạnh hiệu lực, hiệu quả trong thi hành Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp [8]; Luật Công an nhân dân; Luật an ninh quốc gia; Luật an ninh mạng [7]; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030 [1]; Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25/4/2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh… từ đó tạo cơ sở để thu hút đầu tư tư nhân, quy định rõ cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực an ninh và thiết lập cơ chế mua sắm linh hoạt hơn. Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu (EU) về Đạo luật đoàn kết mạng đã "củng cố vị thế cạnh tranh của ngành công nghiệp và dịch vụ trong Liên minh trên toàn bộ nền kinh tế kỹ thuật số bằng cách tăng cường sự đoàn kết ở cấp Liên minh, củng cố hệ sinh thái an ninh mạng, tăng cường khả năng phục hồi mạng của các quốc gia thành viên và phát triển các kỹ năng, bí quyết, khả năng và năng lực của lực lượng lao động liên quan đến an ninh mạng" [6].
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế mua sắm đặc thù cho công nghiệp an ninh, khác biệt căn bản so với mua sắm công thông thường. Mô hình "Other Transaction Authority" mà Hoa Kỳ áp dụng từ 2015 cho phép Bộ Quốc phòng ký kết hợp đồng với doanh nghiệp công nghệ mà không cần trải qua toàn bộ quy trình đấu thầu thông thường, giúp rút ngắn vòng đời từ ý tưởng đến sản phẩm xuống còn 18 tháng so với 7-10 năm theo quy trình thông thường. Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng mô hình tương tự, nhưng với điều kiện tiên quyết: Phải gắn với cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ và tiêu chí đánh giá kết quả rõ ràng để tránh nguy cơ lợi dụng cơ chế đặc thù vì mục đích ngoài an ninh.
Phát huy chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, nhất là chức năng: "Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hoá các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh" [2]. Phát huy năng suất, chất lượng hoạt động của 07 đơn vị cấp phòng, 06 công ty của Cục Công nghiệp an ninh. Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương và các địa phương có cơ sở công nghiệp an ninh để tiến hành phát triển công nghiệp an ninh có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, đúng lộ trình.
Về chính sách thuế và tài chính, cần thiết kế gói ưu đãi đặc biệt cho doanh nghiệp tham gia công nghiệp an ninh như: Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế nhập khẩu máy móc thiết bị và cơ chế khấu trừ thuế cho chi phí nghiên cứu phát triển. Tiến hành thành lập "Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh" [11] do Bộ Công an quản lý. Cần thiết lập cơ chế cho Quỹ này: Chỉ giải ngân theo từng giai đoạn với mốc sản phẩm cụ thể; dự án phải có hội đồng thẩm định độc lập (Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, chuyên gia công nghệ của Bộ Công An); kết quả đầu tư, giải ngân, sản phẩm thực tế phải được công khai trước Quốc hội, thiết lập cơ chế "mạo hiểm" không vượt quá 20% quỹ đầu tư. Nghiên cứu thí điểm phát hành trái phiếu công nghiệp an ninh là một kênh huy động vốn. Với lãi suất cạnh tranh và tính an toàn cao do nhà nước bảo lãnh, loại trái phiếu này có thể thu hút nguồn tiết kiệm xã hội đáng kể.
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này cũng là nhiệm vụ không thể trì hoãn. Đại hội XIV nêu lên "Nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nước" [2, tr.285]. Điều này sẽ đơn giản hóa thủ tục cấp phép hoạt động, nghiên cứu, xây dựng các tổ hợp công nghiệp an ninh, đồng thời là cơ chế mở cho các doanh nghiệp tư nhân ngoài công an hợp tác, đầu tư, quay vòng vốn một cách thuận lợi.
Hai là, ưu tiên đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp an ninh
Đây là giải pháp căn cơ, tạo điều kiện để thực hiện các giải pháp khác thông suốt, thuận lợi. Công nghệ tiên tiến cần con người tiên tiến. Do vậy, cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu tại Học viện An ninh nhân dân theo hướng gắn liền với nhu cầu thực tế của công nghiệp an ninh, không đào tạo theo lý thuyết thuần túy. Cần có cơ chế thu hút nhân tài trong và ngoài nước tham gia vào các đề án an ninh chiến lược với chính sách đãi ngộ cạnh tranh và môi trường làm việc sáng tạo, cởi mở.

Chương trình đưa sinh viên đào tạo tại nước ngoài phải gắn với tuyển dụng, bố trí công việc cụ thể, lộ trình thăng tiến, chế tài bồi hoàn khi cấp học bổng. Học bổng phải có hợp đồng ba bên gồm cơ quan cấp, cơ sở đào tạo nước ngoài và đơn vị sử dụng lâo động trong nước. Đồng thời, phải đầu tư nâng cấp trang, thiết bị các phòng thí nghiệm, trung tâm R$D.
Đặc biệt, chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có chuyên môn về an ninh mạng, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo về nước cống hiến cần được triển khai mạnh mẽ và thực chất hơn với cơ chế thủ tục minh bạch, ưu tiên đặc biệt, thời gian xử lý nhanh.
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ an ninh hiện đại tạo ra hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo trong toàn dân
Đây là giải pháp mang tính đột phá, chiến lược. Không có đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu phát triển thì không có công nghiệp an ninh hiện đại. Đây là quy luật không có ngoại lệ. Tăng "mức đầu tư cho R&D của Việt Nam" [4] để đảm bảo GDP đạt mục tiêu "hai chữ số". Nguồn vốn này phải được đảm bảo liên tục thông qua cơ chế quỹ ngân sách đa năm, không bị cắt giảm theo chu kỳ tài khóa.
Tiêu chí lựa chọn cần dựa trên ba yếu tố: Có năng lực nền tảng; thời gian từ đầu tư đến sản phẩm khả dụng trong vòng 5-10 năm và có thị trường nội địa đủ lớn để "nuôi" vòng đời sản phẩm ban đầu.
Ưu tiên đầu tư cần tập trung vào các lĩnh vực công nghệ lõi mà Việt Nam có thể tạo ra đột phá trong 10 năm tới. Thứ nhất là trí tuệ nhân tạo ứng dụng trong an ninh: Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, chi phí thấp và FPT Telecom cùng một số doanh nghiệp công nghệ đã có nền tảng tốt để phát triển các hệ thống AI cho giám sát an ninh, nhận dạng, phân tích dữ liệu lớn. Thứ hai là công nghệ không người lái: Chi phí phát triển máy bay không người lái chiến thuật thấp hơn nhiều so với các hệ thống vũ khí truyền thống. Thứ ba là lĩnh vực an ninh mạng với nhu cầu nội địa cực kỳ lớn và Việt Nam đã có một số doanh nghiệp đủ năng lực như BKAV, Viettel Cyber Security…
Cần thiết lập mô hình "hệ sinh thái đổi mới an ninh" kết nối trực tiếp các trường đại học kỹ thuật, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và đơn vị sử dụng trong lực lượng an ninh. Vấn đề mấu chốt là tạo ra "khách hàng đầu tiên" đáng tin cậy cho các startup này, lực lượng Công an sẵn sàng mua và thử nghiệm sản phẩm nội địa. Phát huy mô hình "lưỡng dụng" tại GTEL để rút kinh nghiệm nhân rộng ra toàn ngành an ninh.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực an ninh cần được xử lý theo cơ chế đặc thù. Cần xây dựng cơ chế đăng ký sáng chế bí mật chuyên biệt với chính sách chia sẻ lợi nhuận hợp lý giữa nhà nước và nhà phát minh. Xây dựng Bộ chỉ số tự chủ chiến lược về công nghiệp an ninh đánh giá định kỳ, minh bạch.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh trên cơ sở linh hoạt về sách lược, kiên định về nguyên tắc tự chủ chiến lược
Đây là giải pháp chủ động, mang tính liên kết dựa trên cơ sở lợi ích quốc gia. Trong triết học chính trị, tự chủ không bao giờ đồng nghĩa với biệt lập. Một quốc gia có chủ quyền thực sự là quốc gia biết lựa chọn quan hệ phụ thuộc nào chấp nhận được và quan hệ nào cần tránh. Nhìn từ góc độ đó, hợp tác quốc tế về công nghiệp an ninh phản ánh năng lực chủ thể, chứ không phải sự nhượng bộ chủ quyền.
Đa dạng hóa đối tác không phải chủ trương mang tính hình thức. Ấn Độ có thể là đối tác phù hợp trong sản xuất vũ khí bộ binh, phương tiện cơ giới bọc thép và tàu tuần tra ven bờ. Hợp tác với Anh trong lĩnh vực "thiết bị bay không người lái, công nghệ áp chế thiết bị bay không người lái, thiết bị soi chiếu kiểm soát an ninh, trung tâm chỉ huy di động, trang thiết bị bảo hộ, công cụ hỗ trợ…" [12] cần được nâng lên tầm chiến lược. Với Hoa Kỳ, an ninh mạng và an ninh biển đảo là hai địa hạt có lợi ích thực sự hội tụ, song điều khoản chuyển giao công nghệ phải được đặt lên bàn đàm phán ngay từ đầu, không phải để thương lượng về sau.
Nhập khẩu vũ khí mà thiếu ràng buộc chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là thay một mối lệ thuộc bằng mối lệ thuộc khác. Năng lực sản xuất nội địa cần được tích lũy song hành với từng hợp đồng, theo lộ trình rõ ràng, dưới sự giám sát chặt chẽ. Hợp tác theo nghĩa chiến lược là ở đó, khác hẳn với quan hệ mua bán đơn thuần.
Năm là, phát triển công nghiệp an ninh hiện đại gắn với đấu tranh tư tưởng sai trái trên không gian mạng
Trong hệ thống năm giải pháp, đây là giải pháp có tính đột phá cao nhất về mặt kỹ thuật - chính trị. Luật số 119/2025/QH15 xác định tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có chức năng nghiên cứu, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, trọng tâm là: "sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an toàn, an ninh mạng; sản phẩm, dịch vụ công nghiệp dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn quốc gia" [9, tr.4]. Từ quy định đó, vấn đề đặt ra là: Liệu Việt Nam có thực sự làm chủ được lớp công nghệ nền tảng, hay vẫn triển khai bảo vệ tư tưởng trên hạ tầng kỹ thuật số của người khác?
Câu hỏi đó buộc phải trả lời bằng hành động cụ thể. Ba hạng mục kỹ thuật cần ưu tiên gồm hệ thống giám sát lưu lượng thông tin quốc gia, năng lực phát hiện xâm nhập theo thời gian thực và mã hóa dữ liệu chiến lược. Đồng thời, nền tảng phân tích dữ liệu lớn phải đủ khả năng nhận diện và ngăn chặn thông tin xấu độc ngay từ tầng hạ tầng. Đây là khác biệt bản chất so với cách ứng phó thụ động sau khi sự cố đã xảy ra.
Vấn đề phân công trách nhiệm giữa các cơ quan không kém phần quan trọng. Bộ Công an đảm nhiệm chủ trì phát triển sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phục vụ bảo vệ hạ tầng thông tin và dữ liệu chiến lược theo danh mục luật định. Ban Tuyên giáo Trung ương cùng hệ thống báo chí giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất, lan tỏa nội dung tích cực và tổ chức đấu tranh phản bác luận điệu thù địch. Điều cần nhấn mạnh là hai nhóm chức năng này phải phối hợp theo quy chế rõ ràng, có chia sẻ thông tin, có cơ chế cảnh báo sớm, song không được để chồng lấn thẩm quyền, vì sự mơ hồ về trách nhiệm chính là lỗ hổng mà các lực lượng chống phá thường khai thác.
Triển khai nhất quán cơ chế trên sẽ góp phần nâng cao thực chất hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, tính minh bạch trong phân định chức năng giữa các cơ quan an ninh và tuyên giáo cũng phù hợp với thông lệ quản trị an ninh mạng quốc tế, tạo cơ sở thuận lợi để củng cố lòng tin của nhà đầu tư và dư luận xã hội trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
KẾT LUẬN
Chùm bài viết đã nêu rõ: Tư duy Đại hội XIV về phát triển công nghiệp an ninh "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" thực sự là bước chuyển về chất trong nhận thức tự chủ chiến lược của Đảng. Đó là tất yếu lịch sử. Thế giới biến động, bản chất các mối đe dọa an ninh thay đổi, yêu cầu đặt ra với công nghiệp an ninh cũng phải thay đổi tương ứng. Đảng Cộng sản Việt Nam phải thể hiện bản lĩnh tiên phong khi nhận diện kịp thời xu thế đó và chuyển hóa nó thành chủ trương cụ thể, có tầm nhìn chiến lược và lộ trình thực hiện rõ ràng. Đây là kết quả vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể, là lá chắn "lý luận - công nghệ" vững chắc trước mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Hiện thực hóa tư duy đó đòi hỏi nỗ lực đồng bộ trên nhiều mặt trận: Thể chế, nhân lực, công nghệ, hợp tác quốc tế và bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng với lộ trình cụ thể, chỉ số đo lường rõ ràng và quyết tâm chính trị kiên định. Mỗi bước tiến của công nghiệp an ninh Việt Nam là một bước củng cố thêm sức mạnh tự chủ chiến lược của dân tộc, một bằng chứng thực tiễn bác bỏ những luận điệu phủ nhận con đường Đảng và nhân dân đã lựa chọn, góp phần thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Vũ Anh Quân - Học viện Quốc tế, Bộ Công an
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
1. Chính phủ (2022), Quyết định phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030 số 964/QĐ-TTg ngày 10/8/2022, Hà Nội.
2. Chính phủ (2026), Nghị định quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia số 60/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.
5. https://congthuong.vn/tang-dau-tu-r-d-don-bay-cho-tang-truong-hai-con-so-449322.html, ngày 29/03/2026.
6. Lê Mỹ (2025), Việt Nam thiếu hụt 700.000 nhân sự an ninh mạng trong 3 năm tới, Trung tâm An ninh mạng QTSC.
7. https://www.qtsc.com.vn/tin-tuc/viet-nam-thieu-hut-700000-nhan-su-an-ninh-mang-trong-3-nam-toi, ngày 28/5/2025.
8. Hoàng Thu Phương (2025), Top 10 các chính sách an ninh, an toàn thông tin nổi bật trên thế giới năm 2024, Tạp chí an toàn thông tin.
9. https://antoanthongtin.vn/tin/top-10-cac-chinh-sach-an-ninh-an-toan-thong-tin-noi-bat-tren-the-gioi-nam 2024#:~:text=C%C3%B4ng%20%C6%B0%E1%BB%9Bc%20ch%E1%BB%91ng%20t%E1%BB%99i%20ph%E1%BA%A1m%20m%E1%BA%A1ng%20c%C5%A9ng,th%C3%B4ng%20tin%20v%C3%A0%20truy%E1%BB%81n%20th%C3%B4ng%20(ICT)%2C%20t%E1%BA%A1o, truy cập ngày 10/04/2025.
10. Quốc hội (2018), Luật an ninh mạng số 24/2018/QH14 ngày 12/6/2018, Hà Nội.
11. Quốc hội (2024), Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp số 38/2024/QH15 ngày 24/8/2024, Hà Nội.
12. Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp số 119/2025/QH15 ngày 10/12/2025, Hà Nội.
14.https://www.vietnam.vn/thu-tuong-le-minh-hung-khong-chap-nhan-tang-truong-nong-neu-gay-ra-bat-on-vi-mo, truy cập ngày 12/04/2026.
15. Hoài Thu (2025), Đề xuất lập Quỹ Đầu tư phát triển công nghiệp an ninh do Bộ Công an quản lý, Báo Dân trí,
16. https://dantri.com.vn/thoi-su/de-xuat-lap-quy-dau-tu-phat-trien-cong-nghiep-an-ninh-do-bo-cong-an-quan-ly-20251014121339894.htm, truy cập ngày 14/10/2025.
17. Công Tuấn (2026), Tăng cường hợp tác phát triển công nghiệp an ninh với các đối tác Anh, Báo Công an, https://www.bocongan.gov.vn/bai-viet/tang-cuong-hop-tac-phat-trien-cong-nghiep-an-ninh-voi-cac-doi-tac-anh-17733635 21, truy cập ngày 12/3/2026.