Giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên qua mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường ở tỉnh Bắc Ninh

Thứ tư, 01/07/2026 - 00:02

Giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên đang trở thành yêu cầu quan trọng trong truyền thông môi trường ở những địa phương có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh và cấu trúc môi trường đa dạng như Bắc Ninh. Thực tiễn này đòi hỏi truyền thông môi trường không chỉ dừng lại ở truyền đạt một chiều, mà cần gắn kết nhận thức, trải nghiệm và hành động. Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết liên quan, bài viết đề xuất mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường, trong đó thanh thiếu niên vừa là chủ thể tiếp nhận, vừa tham gia kiến tạo và lan tỏa thông điệp xanh.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Từ khóa: nhận thức xanh; thanh thiếu niên; chuyển hóa thông điệp; truyền thông môi trường; Bắc Ninh.

1. Đặt vấn đề

Bảo vệ môi trường sinh thái đang trở thành yêu cầu phát triển có tính nền tảng đối với các địa phương công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng và yếu tố trung tâm của phát triển bền vững [1]. Trong điều kiện hiện nay, môi trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật của xử lý chất thải hay quản lý tài nguyên, mà còn gắn với quản trị phát triển, chất lượng sống, trách nhiệm công dân và niềm tin xã hội. Một chính sách môi trường dù đúng đắn cũng khó phát huy hiệu quả nếu công chúng chưa hiểu đúng, chưa đủ niềm tin và chưa biết cách tham gia.

Bắc Ninh là trường hợp có ý nghĩa điển hình để nghiên cứu về truyền thông môi trường. Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, từ ngày 01/7/2025, tỉnh Bắc Giang hợp nhất với tỉnh Bắc Ninh để thành lập tỉnh Bắc Ninh mới, có diện tích hơn 4.718 km² và dân số trên 3,6 triệu người [2]. Sau hợp nhất, Bắc Ninh trở thành không gian phát triển đa dạng, đan xen giữa khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, đô thị, vùng nông nghiệp hàng hóa, vùng đồi rừng và các khu vực công nghiệp - đô thị mới. Vì vậy, các vấn đề môi trường ở Bắc Ninh không biểu hiện một cách đồng nhất, mà có sự phân hóa theo từng tiểu vùng, nhóm dân cư và điều kiện sinh kế.

Trong các nhóm công chúng của truyền thông môi trường, thanh thiếu niên giữ vị trí đặc biệt bởi đây là nhóm đang hình thành thế giới quan, chuẩn mực hành vi và năng lực công dân. Thanh thiếu niên còn là nhóm có sự tiếp cận nhanh với truyền thông số, dễ tham gia các hoạt động cộng đồng và có sức lan tỏa trong nhà trường, gia đình, mạng xã hội cũng như các tổ chức Đoàn, Đội, Hội. Giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên vì thế không chỉ nhằm nâng cao hiểu biết cá nhân, mà còn có thể tạo tác động lan tỏa trong cộng đồng.

Tuy nhiên, truyền thông môi trường lâu nay ở nhiều nơi vẫn còn thiên về cung cấp thông tin một chiều, chưa thực sự chú trọng đúng mức đến trải nghiệm, đối thoại và hành động của người tiếp nhận. Trong bối cảnh truyền thông số và sự phân hóa mạnh của các vấn đề môi trường địa phương, cần chuyển từ truyền đạt thông tin sang chuyển hóa nhận thức xanh; từ coi thanh thiếu niên là đối tượng tiếp nhận sang nhìn nhận các em như chủ thể tham gia kiến tạo và lan tỏa thông điệp xanh. Do đó, bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường nhằm giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên ở tỉnh Bắc Ninh.

2. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống lý luận  

Các nghiên cứu liên quan đến giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên có thể khái quát thành ba hướng chính. Hướng nghiên cứu về truyền thông môi trường tập trung làm rõ vai trò của báo chí, truyền thông đại chúng và các chiến dịch truyền thông trong cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và tạo đồng thuận xã hội đối với bảo vệ môi trường [3]. Hướng nghiên cứu về giáo dục môi trường và giáo dục vì phát triển bền vững nhấn mạnh việc hình thành tri thức, thái độ, kỹ năng và năng lực hành động cho người học thông qua chương trình giáo dục, hoạt động trải nghiệm và phương pháp dạy học tích cực [4], [5]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về thanh thiếu niên trong môi trường truyền thông số thường gợi mở những vấn đề liên quan đến hành vi tiếp nhận, chia sẻ thông tin, khả năng tham gia cộng đồng và rủi ro từ thông tin thiếu kiểm chứng.

Các hướng nghiên cứu trên đã tạo cơ sở quan trọng để nhận diện vai trò của truyền thông, giáo dục và thanh thiếu niên trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, còn thiếu những khung phân tích tích hợp truyền thông môi trường với giáo dục nhận thức xanh, trong đó thanh thiếu niên không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tham gia chuyển hóa và lan tỏa thông điệp xanh. Đồng thời, các nghiên cứu hiện có chưa chú ý đầy đủ đến các điều kiện của địa phương có cấu trúc môi trường - xã hội phân hóa mạnh như Bắc Ninh, nơi một thông điệp môi trường chung khó phù hợp đồng đều với các tiểu vùng công nghiệp, làng nghề, đô thị, nông nghiệp và đồi rừng. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu tiếp cận giáo dục nhận thức xanh như một quá trình kết hợp giữa truyền thông, giáo dục, trải nghiệm và hành động xã hội.

3. Cơ sở lý luận

Từ tiếp cận giáo dục vì phát triển bền vững, UNESCO (2017) nhấn mạnh sự cần thiết phải hình thành tri thức, kỹ năng, giá trị và thái độ cho người học, qua đó giúp họ tham gia giải quyết các thách thức đặt ra đối với phát triển bền vững, trong đó có bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu [4]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng tiếp cận bảo vệ môi trường như trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân [6]. Trên cơ sở đó, nhận thức xanh có thể được hiểu là sự hiểu biết, thái độ, giá trị và năng lực hành động của cá nhân, nhóm xã hội đối với các vấn đề môi trường và phát triển bền vững. Với thanh thiếu niên, nhận thức xanh không chỉ là biết về ô nhiễm môi trường, mà còn bao gồm khả năng hiểu nguyên nhân, hậu quả, trách nhiệm, đánh giá độ tin cậy của thông tin, lựa chọn hành vi phù hợp và duy trì hành vi đó như một phần của lối sống.

Mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường có thể kế thừa từ một số nền tảng lý thuyết quan trọng. Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen nhấn mạnh vai trò của thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi đối với ý định hành động [7]. Lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers cho thấy một thực hành mới chỉ có thể lan rộng khi công chúng nhận thấy lợi ích, sự phù hợp, tính dễ hiểu, khả năng thử nghiệm và quan sát kết quả [8]. Trong khi đó, truyền thông chính sách hiện đại đặt ra yêu cầu truyền thông cần chủ động, công khai, minh bạch, gắn với nhu cầu thông tin của xã hội và có cơ chế phản hồi [9].

Từ các nền tảng trên, có thể thấy truyền thông môi trường chỉ tạo ra tác động bền vững khi thông tin được chuyển hóa thành nhận thức, thái độ, hành vi xanh và năng lực lan tỏa. Đây là cơ sở để tiếp cận giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên như một quá trình kết hợp giữa truyền thông, giáo dục, trải nghiệm và hành động xã hội.

4. Đề xuất mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường nhằm giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên

4.1. Giáo dục hóa thông điệp môi trường

Giáo dục hóa thông điệp môi trường là quá trình chuyển thông tin môi trường từ dạng thông báo, khẩu hiệu hoặc dữ liệu chuyên môn thành nội dung học tập, tình huống thảo luận, hoạt động trải nghiệm và nhiệm vụ hành động phù hợp với thanh thiếu niên. Thay vì chỉ truyền đạt thông tin, quá trình này giúp người học hình thành nhận thức, thái độ tích cực và biết lựa chọn hành vi xanh trong đời sống hằng ngày.

Có thể khái quát quá trình chuyển hóa này qua năm khâu: (1) Lựa chọn và kiểm chứng thông tin môi trường; (2) Diễn giải thông tin thành tri thức dễ hiểu, gắn với bối cảnh địa phương; (3) Hình thành thái độ và giá trị tích cực đối với bảo vệ môi trường; (4) Rèn luyện kỹ năng hành động cụ thể; (5) Khuyến khích thanh thiếu niên tạo ra sản phẩm truyền thông hoặc sáng kiến xanh từ chính trải nghiệm của mình. Nhờ đó, thông điệp môi trường không dừng ở nhận thức cá nhân, mà có thể tiếp tục được lan tỏa trong nhà trường, gia đình và cộng đồng.

4.2. Thanh thiếu niên như chủ thể tiếp nhận, chuyển hóa và lan tỏa

Trong mô hình này, thanh thiếu niên không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin môi trường, mà là chủ thể tham gia chuyển hóa thông điệp thành nhận thức, hành vi và sản phẩm truyền thông cụ thể. Các em có thể tiếp nhận, kiểm chứng, diễn giải thông tin theo trải nghiệm sống của mình; đồng thời chuyển thông tin đó thành bài viết, video, infographic, dự án học tập, sáng kiến cộng đồng hoặc hành vi xanh trong đời sống hằng ngày.

Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm của thanh thiếu niên trong môi trường truyền thông số, nơi mỗi cá nhân vừa tiếp nhận, vừa có khả năng chia sẻ và tạo lập nội dung. Tuy nhiên, thanh thiếu niên không phải là một nhóm công chúng hoàn toàn đồng nhất. Sự khác biệt về lứa tuổi, không gian sống, điều kiện học tập, lao động và nhu cầu thông tin đòi hỏi mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường phải được thiết kế linh hoạt, tránh áp dụng một cách truyền thông chung cho các nhóm có khả năng tiếp nhận và tham gia khác nhau.

4.3. Cấu trúc vận hành của mô hình

Mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường vận hành trên hai chiều liên kết. Chiều thứ nhất là chuyển hóa nhận thức, bắt đầu từ thông tin môi trường, đi qua quá trình giáo dục, trải nghiệm, thực hành và hình thành hành vi xanh. Chiều thứ hai là lan tỏa xã hội, trong đó thanh thiếu niên đưa nhận thức, thái độ và hành vi xanh đã được hình thành vào các môi trường gần gũi như lớp học, gia đình, nhóm bạn, mạng xã hội và cộng đồng.

Khác với cách truyền thông một chiều, mô hình này coi phản hồi, trải nghiệm và sản phẩm sáng tạo của thanh thiếu niên là một bộ phận của quá trình truyền thông. Thông điệp môi trường vì vậy không chỉ đi từ cơ quan, tổ chức đến công chúng, mà còn được tiếp tục điều chỉnh, cụ thể hóa và lan tỏa thông qua hành động của người tiếp nhận. Trong những địa phương có cấu trúc môi trường - xã hội đa dạng, mô hình không vận hành bằng một thông điệp chung duy nhất, mà cần được thiết kế linh hoạt theo từng không gian sống, nhóm công chúng và vấn đề môi trường cụ thể.

4.4. Mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường và thang năng lực nhận thức xanh

Để cụ thể hóa cấu trúc vận hành của mô hình, có thể tích hợp quá trình chuyển hóa thông điệp môi trường với thang năng lực nhận thức xanh của thanh thiếu niên theo năm khâu cơ bản sau:

Bảng 1. Khung tích hợp quá trình chuyển hóa thông điệp và thang năng lực nhận thức xanh

TT

Khâu chuyển hóa thông điệp

Nội dung

vận hành

Cấp độ năng lực nhận thức xanh

Vai trò của thanh thiếu niên

Sản phẩm/hoạt động minh chứng

1

Lựa chọn, kiểm chứng thông tin môi trường

Tiếp cận thông tin từ cơ quan quản lý, báo chí, nhà trường, cộng đồng và mạng xã hội; nhận diện nguồn tin chính thống

Nhận biết

Người tiếp nhận và ghi nhận thông tin

Quan sát, ghi chép, chia sẻ thông tin đã kiểm chứng; nhật ký môi trường lớp học/khu dân cư

2

Diễn giải thông tin thành tri thức gần gũi

Chuyển dữ liệu, cảnh báo hoặc chính sách môi trường thành bài học, tình huống, câu hỏi thảo luận gắn với bối cảnh địa phương

Hiểu và đánh giá

Người học, người phân tích và đối thoại

Thảo luận nhóm, khảo sát nhỏ, bản đồ điểm xanh - chưa xanh, infographic

3

Hình thành thái độ, giá trị và trách nhiệm

Nhận diện quan hệ giữa hành vi cá nhân, sinh kế, sức khỏe, môi trường và phát triển bền vững

Hiểu và đánh giá

Người phản biện và lựa chọn giá trị

Tranh biện, tọa đàm, phản biện thông tin sai lệch, đề xuất giải pháp

4

Chuyển hóa thành hành vi xanh

Rèn luyện kỹ năng và duy trì hành vi cụ thể trong học tập, lao động, sinh hoạt và tiêu dùng

Hành động

Người thực hành

Phân loại rác, tiết kiệm nước/điện, giảm nhựa dùng một lần, tham gia mô hình xanh

5

Kiến tạo và lan tỏa thông điệp xanh

Biến trải nghiệm thành sản phẩm truyền thông, sáng kiến hoặc hành động có khả năng lan tỏa trong nhà trường, gia đình, cộng đồng và môi trường số

Hành động và lan tỏa

Người kiến tạo và lan tỏa thông điệp

Video, bài viết, kênh nội dung xanh, phóng viên môi trường học đường, sáng kiến cải thiện môi trường


5. Vận dụng mô hình vào thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là trường hợp phù hợp để vận dụng mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường, bởi tỉnh hiện đang hội tụ nhiều tiểu vùng môi trường khác nhau. Ở khu vực Bắc Ninh trước hợp nhất, sức ép môi trường tập trung tại các khu, cụm công nghiệp và một số làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao như Phong Khê, Văn Môn, Đa Hội, Đại Bái, Khắc Niệm, Phú Lâm. Trong khi đó, khu vực Bắc Giang trước hợp nhất lại có đặc trưng nổi bật về nông nghiệp hàng hóa, vùng đồi rừng và các khu công nghiệp - đô thị đang mở rộng. Sự khác biệt này cho thấy truyền thông môi trường ở Bắc Ninh không thể chỉ dựa vào một thông điệp chung, mà cần được thiết kế theo từng tiểu vùng, từng nhóm công chúng và từng vấn đề môi trường cụ thể.

Thứ nhất, cần xây dựng bộ thông điệp môi trường phân tầng theo không gian phát triển và nhóm công chúng. Với khu vực công nghiệp, làng nghề, thông điệp nên tập trung vào nước thải, khí thải, phân loại rác, tái chế an toàn và trách nhiệm cộng đồng; với vùng nông - lâm nghiệp, cần nhấn mạnh sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý, bảo vệ nguồn nước, đất đai và rừng; với khu công nhân và đô thị, trọng tâm là rác sinh hoạt, nhựa dùng một lần, tiêu dùng bền vững và không gian xanh. Đối với thiếu niên, thông điệp cần được chuyển hóa qua bài học, hoạt động trải nghiệm, sản phẩm sáng tạo và sinh hoạt Đội trong nhà trường; đối với thanh niên, nhất là thanh niên công nhân ở khu công nghiệp, làng nghề, thông điệp cần gắn với truyền thông số, tổ chức Đoàn, công đoàn, doanh nghiệp, sinh kế, sức khỏe, an toàn lao động và trách nhiệm cộng đồng.

Thứ hai, cần chuyển thông tin môi trường địa phương thành học liệu, trải nghiệm và hoạt động giáo dục cụ thể. Những vấn đề môi trường ở Bắc Ninh không nên chỉ được truyền đạt dưới dạng khẩu hiệu hoặc cảnh báo, mà cần được chuyển thành bài học ngắn, tình huống thảo luận, câu hỏi gợi mở, hoạt động trải nghiệm và dự án nhỏ trong nhà trường. Chẳng hạn, tại Phong Khê, quá trình xử lý ô nhiễm môi trường đã được triển khai quyết liệt; tính đến ngày 18/10/2024, 158/228 cơ sở sản xuất giấy trong khu dân cư, trên đất nông nghiệp đã xin dừng hoạt động [10]. Số liệu này không chỉ phản ánh kết quả quản lý môi trường, mà còn có thể được chuyển hóa thành câu chuyện truyền thông chính sách về sự đánh đổi giữa lợi ích kinh tế ngắn hạn và môi trường bền vững dài hạn. Từ đó, nhà trường, tổ chức Đoàn, Đội có thể tổ chức tọa đàm, tranh biện, khảo sát nhỏ, xây dựng bản đồ điểm xanh - chưa xanh, thiết kế infographic, video ngắn hoặc nhật ký môi trường học đường. Cách làm này giúp thanh thiếu niên hiểu môi trường như một vấn đề gắn với đời sống, sinh kế, sức khỏe và trách nhiệm công dân, thay vì một nội dung xa rời thực tiễn.

Thứ ba, cần tạo cơ chế để thanh thiếu niên tham gia kiến tạo và lan tỏa thông điệp xanh. Đây là điểm quan trọng của mô hình chuyển hóa thông điệp môi trường, bởi thanh thiếu niên không chỉ tiếp nhận thông tin, mà còn có thể biến hiểu biết và trải nghiệm của mình thành sản phẩm truyền thông, sáng kiến hoặc hành vi có sức lan tỏa. Với học sinh, có thể ưu tiên các mô hình như "phóng viên môi trường học đường", lớp học xanh, nhật ký môi trường, cuộc thi infographic hoặc video ngắn. Với thanh niên công nhân và lao động trẻ, có thể phát triển kênh truyền thông xanh trong chi đoàn, tổ công nhân tự quản, diễn đàn trực tuyến, tọa đàm tại doanh nghiệp hoặc sáng kiến cải thiện môi trường làm việc và khu nhà trọ. Qua đó, thông điệp môi trường được chuyển từ lời kêu gọi chung thành hoạt động cụ thể, có người thực hiện, có sản phẩm và có khả năng duy trì.

Thứ tư, giáo dục nhận thức xanh cần gắn với phát triển năng lực số và năng lực phản biện thông tin môi trường. Thanh thiếu niên hiện tiếp nhận nhiều thông tin môi trường qua mạng xã hội, trong đó không ít thông tin còn rời rạc, nặng cảm xúc hoặc thiếu kiểm chứng. Vì vậy, bên cạnh việc khuyến khích các em sáng tạo sản phẩm truyền thông, cần trang bị kỹ năng kiểm chứng nguồn tin, đọc hiểu dữ liệu môi trường, không chia sẻ hình ảnh hoặc thông tin chưa có căn cứ, biết phản biện thông tin sai lệch và xây dựng thông điệp tích cực, chính xác, nhân văn. Đây là điều kiện để việc lan tỏa thông điệp xanh không rơi vào phong trào hình thức hoặc truyền thông cảm xúc nhất thời.

Thứ năm, cần thiết lập cơ chế phối hợp đa chủ thể và bộ chỉ báo đánh giá phù hợp. Cơ quan quản lý môi trường cung cấp dữ liệu chính thống; ngành giáo dục chuyển hóa dữ liệu thành học liệu và hoạt động trải nghiệm; tổ chức Đoàn, Đội, Hội huy động lực lượng thanh thiếu niên; báo chí địa phương lan tỏa mô hình tốt; doanh nghiệp và cộng đồng hỗ trợ nguồn lực, không gian thực hành. Hiệu quả mô hình cần được đánh giá bằng cả chỉ báo định lượng và định tính, như số trường, lớp, chi đoàn tham gia; số sản phẩm truyền thông do thanh thiếu niên thực hiện; mức độ hiểu biết trước và sau hoạt động; số mô hình xanh được duy trì; phản hồi của phụ huynh, nhà trường và cộng đồng. Đánh giá không nhằm thành tích hóa phong trào, mà để nhận diện cách làm hiệu quả, điều chỉnh thông điệp và từng bước hình thành thói quen xanh bền vững trong đời sống thanh thiếu niên Bắc Ninh.

6. Kết luận

Giáo dục nhận thức xanh cho thanh thiếu niên là một hướng quan trọng để nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường ở Bắc Ninh trong bối cảnh phát triển nhanh và phân hóa mạnh về không gian kinh tế - xã hội. Vấn đề môi trường chỉ có thể được giải quyết bền vững khi thông điệp môi trường được chuyển hóa thành nhận thức, thái độ và hành vi cụ thể của công chúng, trong đó thanh thiếu niên là lực lượng có khả năng tiếp nhận nhanh, tham gia tích cực và lan tỏa rộng trong nhà trường, gia đình, cộng đồng cũng như môi trường số. Vì vậy, truyền thông môi trường cần vượt khỏi cách truyền đạt một chiều, hướng tới sự kết hợp giữa giáo dục, trải nghiệm, đối thoại và hành động. Khi được tổ chức phù hợp với đặc điểm từng tiểu vùng và có sự phối hợp của nhà trường, tổ chức Đoàn, Đội, Hội, cơ quan quản lý, báo chí, doanh nghiệp và cộng đồng, giáo dục nhận thức xanh có thể góp phần hình thành lối sống xanh, trách nhiệm công dân và nền tảng xã hội cho phát triển bền vững ở Bắc Ninh.

Tài liệu tham khảo

  • Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  • Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
  • Cox, R. (2013), Environmental Communication and the Public Sphere, SAGE Publications.
  • UNESCO (2017), Education for Sustainable Development Goals: Learning Objectives, UNESCO Publishing.
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
  • Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, ban hành ngày 17/11/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.
  • Ajzen, I. (1991), "The theory of planned behavior", Organizational Behavior and Human Decision Processes, Vol. 50, No. 2, pp. 179-211.
  • Rogers, E. M. (2003), Diffusion of Innovations, 5th edition, Free Press.
  • Thủ tướng Chính phủ (2023), Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.
  • Tiến Dũng (2024), "158 cơ sở giấy ở Phong Khê, Bắc Ninh 'bức tử' môi trường dừng hoạt động", Báo điện tử VOV, đăng ngày 21/10/2024, truy cập ngày 15/6/2026,< https://vov.vn/kinh-te/158-co-so-giay-o-phong-khe-bac-ninh-buc-tu-moi-truong-dung-hoat-dong-post1129688.vov>.

* Bài viết là kết quả nghiên cứu thuộc Đề tài "Nghiên cứu đề xuất chu trình truyền thông hiệu quả nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường sinh thái ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay". Mã số: KXBN - 10(25)

TS. Lê Thị Ninh Thuận

Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền