Đất nước vào kỷ nguyên mới đòi hỏi các thành phần kinh tế phải phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, sức cạnh tranh. Trong đó, kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, trách nhiệm xã hội, góp phần xây dựng một nước Việt Nam năng động, hội nhập và phát triển. Trong số chín nghị quyết chiến lược đã được ban hành thì Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân cho thấy sự nhạy bén về tư duy lý luận của Đảng, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, từ khi Nghị quyết ra đời cho đến nay, các thế lực thù địch, phản động đã tỏ rõ thái độ hằn học, không ngừng công kích, xuyên tạc, bóp méo, chống phá với những mưu đồ vô cùng thâm độc, xảo quyệt đòi hỏi phải được nhận diện và kịp thời xác lập những luận cứ, luận chứng khoa học để đấu tranh vạch trần, phê phán, phản bác có sức thuyết phục.
1. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận giá trị Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Nhằm chống phá, xuyên tạc, bóp méo chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã núp bóng dưới những chiêu trò cũ rích như "kiến nghị", "thư ngỏ", "tham vấn" và cho đăng tải, chia sẻ rộng rãi trên internet, các trang báo, mạng xã hội với nhiều luận điệu khác nhau. Điển hình trên trang "Doithoaionline" có bài "Chiêu trò mị dân của cộng sản Việt Nam" cho rằng "Nghị Quyết 68 tự thân nó là một văn kiện chính trị hơn là một kế hoạch kinh tế thực thụ". Trên trang "Việt Tân" với bài "Phát triển kinh tế tư nhân: Liệu "phép vua" có thua "lệ làng"?" đã xuyên tạc cho rằng, chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam chỉ "đẹp trên giấy", "là giấc mơ xa vời". Ngoài ra, trên các trang website, kênh truyền thông phản động như BBC, VOA, RFI, RFA… đã tán phát bài "Tổng Bí thư Tô Lâm phá bỏ thành trì cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản", nội dung xuyên tạc, hạ thấp vị trí, vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước, chỉ trích doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, cản trở sự phát triển của đất nước, đồng thời ca ngợi thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; vu khống, nói xấu Tổng Bí thư Tô Lâm "vứt bỏ đường lối", thể hiện tư tưởng "ủng hộ" kinh tế tư nhân mạnh mẽ, lấy kinh tế tư nhân làm "trụ cột"; kích động, xuyên tạc rằng doanh nghiệp tư nhân bị kìm hãm đã đồng thời kìm hãm khả năng phát triển của dân tộc.
Phải khẳng định rằng, những luận điệu trên dù tiếp cận ở nhiều góc độ và được ngụy biện, che giấu kín kẽ nhưng bản chất là hoàn toàn sai trái, phản động, bịa đặt. Dã tâm của chúng không chỉ cắt xén, xuyên tạc lý luận, bóp méo làm sai lệch thực tiễn, phủ nhận thành quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng, doanh nghiệp tư nhân vào phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước, làm ảnh hưởng tiêu cực đến chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch, hoạt động đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay.
2. Luận cứ đấu tranh phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận giá trị Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, phát triển kinh tế tư nhân là sự vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng trong bối cảnh mới.
Trong tiến trình vận động, phát triển của xã hội, C.Mác cho rằng: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị"[1]. Vì thế, trong thời kỳ này có nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu tư nhân vẫn tồn tại khách quan. Vấn đề đặt ra đó là trong thời kỳ quá độ, sở hữu tư nhân có bị xóa bỏ hay không và bao giờ bị xóa bỏ? Để giải quyết vấn đề này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra luận điểm: "Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu"[2]. Tuy nhiên, cần hiểu rằng mục tiêu của giai cấp vô sản không phải nhằm "xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản"[3]. Theo các ông, chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai khả năng chiếm hữu sản phẩm xã hội. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền tư hữu để nô dịch, chiếm đoạt lao động của người khác. Việc xóa bỏ chế độ tư hữu không phải dễ dàng, trong thời gian ngắn mà sẽ phải trải qua một quá trình rất khó khăn, lâu dài. Điều kiện xóa bỏ chế độ tư hữu là khi đã tạo ra được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết, không được nôn nóng, dùng mệnh lệnh hành chính, áp đặt ý muốn chủ quan mà phải tuân theo các quy luật khách quan của xã hội.
Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin tiếp tục luận giải rõ hơn: "Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"[4]. Thống nhất với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính tất yếu của thời kỳ quá độ, V.I.Lênin khẳng định: "Không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy"[5]. Chuẩn bị cho việc chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, thì cần thiết phải có những bước quá độ như chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ diễn ra ở mỗi nước là khác nhau, nhất là trong một nước tiểu nông "phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội"[6] và không thể quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp chứ không thể quá độ vội vàng, thẳng tuột, không được chuẩn bị chu đáo. Vì vậy, để thực sự giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có cuộc cách mạng xã hội, tức là "phải thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, chuyển các tư liệu đó thành sở hữu công cộng và thay thế nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng việc tổ chức sản xuất sản phẩm theo lối xã hội chủ nghĩa"[7]. Đây là một quá trình kinh tế - xã hội rất lâu dài. Vì vậy, muốn hoàn thành công việc đó, phải thực hiện những bước tiến mạnh mẽ trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công cuộc kiến thiết nền kinh tế ngay sau khi giành chính quyền và trong điều kiện kháng chiến. Đặc thù của Việt Nam là một nước nông nghiệp, lạc hậu, Người chỉ ra cơ cấu thành phần kinh tế: "Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc, ít có gì bán và cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu. - Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. - Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội"[8]. Các thành phần kinh tế này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình kiến thiết đất nước. Sự hợp tác giữa các thành phần kinh tế dựa trên nguyên tắc công tư đều lợi.
Thứ hai, phát triển kinh tế tư nhân là sự tiếp nối sáng tạo quan điểm của Đảng qua các kỳ đại hội.
Sau khi hoàn bình lặp lại ở miền Bắc, Đảng đã kịp thời ban hành Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng (9/1954), nhấn mạnh: "Làm cho các xí nghiệp công và tư hiện có được tiếp tục kinh doanh… Công thương nghiệp tư nhân nhất luật được bảo hộ"[9]. Điều đó đã mở đường cho thương nghiệp và khu vực tư nhân phát triển trong điều kiện đất nước còn chiến tranh. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1976 - 1985, mặc dù đạt được nhiều thành tích nhưng vẫn có một số sai lầm, khuyết điểm. Nguyên nhân đầu tiên mà Đảng chỉ ra đó là do không nhận thức đúng đặc điểm của nước ta cho nên có tư tưởng nóng vội, đề cao quốc doanh, coi nhẹ tư doanh, có khuynh hướng muốn bó hẹp thành phần tư doanh quá sớm, trong khi khu vực kinh tế tư nhân còn rất quan trọng. Trong Kết luận của Bộ Chính trị về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế (20/9/1986) đã thẳng thắn chỉ ra: "Đối với kinh tế tư nhân cũng như đối với những người sản xuất nhỏ, ít chú ý đến những đặc điểm và tính chất của từng ngành, từng nghề để lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp, có xu hướng muốn đưa ngay vào các xí nghiệp công tư hợp doanh hoặc hợp tác xã quy mô lớn, không tính dến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực cán bộ. Vì vậy, trên thực tế một số xí nghiệp công tư hợp doanh, hợp tác xã, tổ hợp chỉ là hình thức"[10]. Đây là một trong những nguyên nhân không kích thích được vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, làm cho đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đảng nhận thức rằng, đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Tư duy kinh tế mới phải dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn hệ thống quy luật khách quan trong điều kiện kinh tế - xã hội của chặng đường đầu tiên, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, khắc phục những quan niệm cũ, giản đơn, cứng nhắc về chủ nghĩa xã hội, những thành kiến đối với quan hệ hàng hóa - tiền tệ và thị trường; khắc phục tư tưởng chủ quan, thoát ly thực tế, xa rời quần chúng, bảo thủ, nóng vội trong công tác lãnh đạo và quản lý kinh tế. Đại hội đã chính thức thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần: "coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"[11] và khẳng định sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân. Đây là bước đột phá trong tư duy của Đảng khi lần đầu tiên khẳng định khai thác tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân là cần thiết để thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và cải thiện đời sống Nhân dân.
Đến Đại hội VII (1991), Đảng có quan điểm rõ ràng hơn khi coi kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước, cho phép kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, ở kỳ đại hội lần này đã tiến thêm một bước trong thừa nhận cơ chế thị trường đi đôi với khuyến khích nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước.
Đại hội VIII (1996), Đảng thừa nhận vai trò của kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Đảng yêu cầu cần đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, đẩy mạnh khuyến khích tư bản tư nhân vào sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài đúng pháp luật, có lợi cho phát triển đất nước.
Đại hội IX (2001), Đảng có bước phát triển nhận thức, nhìn nhận cởi mở hơn về vị trí, vai trò và khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài. Trong kỳ Đại hội này, Đảng xác định kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đại hội X (2006), trên cơ sở ba chế độ sở hữu là toàn dân, tập thể, tư nhân, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, xác định "kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế"[12]. Lần đầu tiên, chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Đảng yêu cầu "xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm"[13]. Đặc biệt, ở Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, Đảng đã đã ban hành Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 "Về đảng viên làm kinh tế tư nhân" thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng nhằm huy động, phát huy tiềm năng trong Nhân dân, trong đó có đội ngũ đảng viên để phát triển kinh tế - xã hội.
Đại hội XI (2011), Đảng xác định rõ hơn vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân. Tập trung hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Tiếp tục đề cao vai trò động lực của kinh tế tư nhân, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu cần thiết phải xây dựng một hệ thống chính sách minh bạch, công bằng và hiệu quả nhằm hỗ trợ khu vực này phát triển, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Đại hội lần thứ XII (2016), Đảng khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tư nhân: "Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế"[14]. Đồng thời, nhất quán quan điểm triển khai các chính sách đồng bộ nhằm loại bỏ rào cản, định kiến, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và khuyến khích đổi mới sáng tạo cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân. Đây là điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nổi lên như một trong những động lực quan trọng, dẫn dắt sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Đại hội XIII (2021), Đảng đã đưa ra những định hướng mang tính chiến lược nhằm phát huy tối đa vai trò của kinh tế tư nhân: "Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động"[15]. Điều này không chỉ tháo gỡ rào cản mà còn khơi dậy tiềm năng sáng tạo, giúp kinh tế tư nhân khẳng định vai trò quan trọng trong cung ứng hàng hóa, tạo việc làm, nâng cao đời sống và thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, bền vững trong thời kỳ hội nhập.
Qua các kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng về kinh tế tư nhân ngày càng đúng đắn và sâu sắc. Từ nhận thức coi kinh tế tư nhân là "một trong những động lực của nền kinh tế" đến chỗ xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế" đã thể hiện bước đột phá trong tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân. Việt Nam thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất không đồng nghĩa với xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Thừa nhận vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân với phương diện là con đường để huy động vốn, phát triển khoa học - công nghệ, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống Nhân dân chứ không phải là thừa nhận bóc lột và tạo điều kiện cho quan hệ bóc lột, áp bức, bất công được hiện diện trong các quan hệ kinh tế ở nước ta. Phát triển kinh tế tư nhân phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước. Phát triển kinh tế nhà nước "hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế"[16]. Do đó, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất không có nghĩa là kinh tế tư nhân thay thế vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Thứ ba, hệ thống pháp luật về phát triển kinh tế tư nhân ngày càng được bổ sung, hoàn thiện.
Hệ thống pháp luật ngày càng được bổ sung, hoàn thiện trên cơ sở cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm, định hướng của Đảng qua các kỳ đại hội, tạo khung pháp lý đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, bảo đảm quyền tự do kinh doanh bình đẳng.
Nhà nước đã kịp thời ban hành các luật quan trọng về phát triển phát triển kinh tế tư nhân. Từ năm 2017 đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành gần 60 luật, hơn 40 Nghị quyết, pháp lệnh, 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; ban hành khoảng trên 1.000 Nghị định có liên quan đến kinh tế tư nhân. Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành các chương trình hành động cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để từng bước đưa khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong đó phải kể đến Nghị quyết số 98/NQ-CP, ngày 3/10/2017 của Chính phủ về Ban hành chương trình hành động của chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày 31/3/2023 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 66/NQ-CP, ngày 9/5/2024 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Giai đoạn từ năm 2021 đến nay, khu vực kinh tế tư nhân gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tăng trưởng kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro, Chính phủ đã trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người lao động. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành nhiều đề án, chương trình, kế hoạch liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân trên các lĩnh vực. Tiêu biểu như Đề án phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số; Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững; Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với xu thế phát triển và thực tiễn Việt Nam hiện nay.
Phát triển kinh tế tư nhân là một xu thế tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Các cường quốc về kinh tế trên thế giới đều coi trọng và tạo mọi cơ chế, điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh trong quá trình phát triển. Trong đó, Trung Quốc với chính sách "cải cách và mở cửa" bắt đầu từ năm 1978, cho phép lập doanh nghiệp tư nhân từ năm 1980, sửa đổi Hiến pháp năm 1988 theo hướng tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp tư nhân, công nhận kinh tế tư nhân là một phần quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XV (1997), cam kết bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của kinh tế cá thể và kinh tế tư doanh, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển bùng nổ. Hiện tại, công ty tư nhân chiếm 92% tổng số doanh nghiệp tại Trung Quốc, đóng góp 50% ngân sách, hơn 60% GDP. Tại Hàn Quốc, từ một quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, quy mô kinh tế khu vực tư nhân còn nhỏ, chủ yếu ở các địa phương. Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu tập trung phát triển công nghiệp hóa nhanh, hướng vào các lĩnh vực như: thép, đóng tàu, hóa chất, điện tử tiêu dùng và xe hơi. Nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành, trong đó, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trực tiếp góp phần hình thành và thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng đối với dòng vốn tư nhân. Do đó, từ một nước nghèo sau chiến tranh, Hàn Quốc hiện đang là quốc gia phát triển trên thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập quốc gia (GNI) bình quân của người Hàn Quốc từ 120 USD (1962) lên gần 35.500 USD (2023), tăng hơn 290 lần[17].
Ở Việt Nam, kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận, đến chỗ được thừa nhận, cho phép phát triển ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đến phát triển trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Từ sau đổi mới đến nay, nhờ những chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi, kinh tế tư nhân ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Khu vực kinh tế tư nhân hiện nay "có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế"[18]. Hàng loạt doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup, Thaco, Masan, Hòa Phát, Vinamilk, FPT… đang khẳng định năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu không chỉ trong nước mà còn trên trường quốc tế. Năm 2024, tăng trưởng GDP đạt 7,09% (vượt mục tiêu 6 - 6,5%), thuộc nhóm số ít các nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới; Quy mô nền kinh tế gần 500 tỷ USD, tăng gần 100 lần so với năm 1986, đứng thứ tư Đông Nam Á và thứ 34 thế giới. Giá trị thương hiệu quốc gia đạt 507 tỷ USD, xếp thứ 32/193 toàn cầu, tăng một bậc về thứ hạng và tăng 2% về giá trị so năm 2023[19]. Đây là những minh chứng thuyết phục khẳng định vị thế của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; là kênh huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước; tạo việc làm, thu nhập, cải thiện đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; thúc đẩy hội nhập quốc tế; đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, từ cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và đặc biệt là những kết quả mà kinh tế tư nhân đạt được trong 40 năm đổi mới, khẳng định những quan điểm mà các thế lực thù địch đưa ra ở trên là hoàn toàn sai trái, phản động, bịa đặt. Nghị quyết 68 định vị "kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế" là hoàn toàn chính xác, thể hiện bước đột phá tư duy chiến lược về phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh mới. Nghị quyết 68 đã thực sự đi vào cuộc sống tạo ra khí thế, xung lực, cơ hội mới cho các doanh nghiệp, khơi thông mọi động lực, giúp cho cho nền kinh tế Việt Nam tự tin, bứt phá và cất cánh trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.47.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.616.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.615.
[4] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.163.
[5] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.309.
[6] V.I.Lênin (2006), Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.189.
[7] V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.518.
[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.266.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.295.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.231.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.390.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.188.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.191.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.103.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.130.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.95.
[17] https://vnexpress.net/cac-nuoc-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-nhu-the-nao-4866682.html.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội, tr.1.
[19] https://baoquocte.vn/kinh-te-viet-nam-40-nam-doi-moi-va-ky-nguyen-vuon-minh-301983.html.
Đại tá Ngô Hoài Đông ,Trung tá Lê Thế Phong - Học viện Chính trị