Kiên định bảo vệ tư duy Đại hội XIV về phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trước sự tấn công mãnh liệt của các thế lực thù địch (Kỳ 2)

Thứ sáu, 29/05/2026 - 15:26

Chiến lược phát triển công nghiệp an ninh hiện đại được Đại hội XIV xác lập là đối tượng chống phá trọng yếu của các thế lực thù địch. Các luận điệu xuyên tạc được thiết kế bài bản nhưng xuất hiện ngẫu nhiên. Mục đích là làm lung lay ý chí chiến lược, gieo mầm hoài nghi vào năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Nhận diện, phân tích và bác bỏ từng luận điệu là yêu cầu cấp thiết. Đây là nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể trì hoãn.

Một là, Việt Nam không cần công nghiệp an ninh nội địa vì có thể mua sắm từ nước ngoài với giá rẻ hơn

Đây là luận điệu được trình bày dưới dạng thuật toán kinh tế: Chi phí sản xuất nội địa cao hơn nhập khẩu trong thời gian ngắn. Do đó cái nào "rẻ hơn" thì nên tập trung vào. Về hình thức, luận điệu này có vẻ như nguyên lý phân tích công lao quốc tế. Nhưng sâu hơn nó phạm phải sai lầm căn bản: Đồng nhất giao dịch thương mại với giao dịch an ninh, hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Do đó, lập luận này mang tính thực dụng và bỏ qua hoàn toàn một phạm trù quyết định: Chủ quyền.

Kiên định bảo vệ tư duy Đại hội XIV về phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trước sự tấn công mãnh liệt của các thế lực thù dịch (Kỳ 2) - Ảnh 1.

Về lý luận, Ph.Ăngghen đã khẳng định nếu thiếu nền tảng vật chất tự chủ là "mất cái tính chất tự chủ bề ngoài, mất tính chất độc lập của chúng đối với cuộc đại cách mạng xã hội" [3, tr.49]. Nguyên lý đó được các nhà nước tư bản lớn trên thế giới thực hiện triệt để trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và an ninh. Không một quốc gia nào cho phép năng lực tự vệ cốt lõi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung nước ngoài. Họ mua thêm để bổ sung và tự sản xuất để làm chủ. Tư tưởng "tự lực cánh sinh" của chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nội lực là quyết định, ngoại lực là bổ sung. Tinh thần đó không phủ nhận hợp tác quốc tế mà Đại hội XIV kế thừa mà làm nền tảng nâng tầm tư duy đó khi xác lập "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" làm nguyên tắc hàng đầu cho công nghiệp an ninh.

Trên lý luận kinh tế học, mua nước ngoài bao gồm: Giá mua, vận chuyển, bảo trì, nâng cấp, đào tạo nhân lực; rủi ro nguồn cung; giá cơ hội mất quyền kiểm soát công nghệ. Vì vậy, mua giá rẻ chỉ là bề nổi còn tổng chi phí và rủi ro chiến lược mới quyết định. Bên cạnh đó, đầu tư công nghiệp an ninh nội địa giống mua bảo hiểm, nhưng đây là bảo hiểm chiến lược ngăn chặn rủi ro thảm họa và không sinh lời trực tiếp.

Thực tiễn lịch sử hiện đại đã xác nhận điều đó: Chi phí tự sản xuất bao gồm chi phí trực tiếp, năng lực làm chủ công nghệ lõi, khả năng ứng phó độc lập trong tình huống khủng hoảng và quyền quyết định chiến lược không bị ai chi phối. Mua vũ khí, trang thiết bị an ninh từ bên ngoài không phải giao dịch thuần túy thương mại. Mỗi hợp đồng đều đi kèm điều kiện, ràng buộc về chính trị. Người mua nhận được sản phẩm, nhưng không nhận được công nghệ lõi. Họ không được quyền tự sửa chữa, tự nâng cấp. Không được đảm bảo về nguồn cung linh kiện khi địa chính trị thay đổi. Bài học về Ukraine là điển hình: Nước này được kế thừa cụm công nghiệp quốc phòng lớn từ Liên Xô sau hậu Chiến tranh Lạnh tạo nên nền tảng quốc phòng quốc gia khá vững chắc. Tuy nhiên hai thập niên sau 1991, vấn đề tham nhũng, quản trị yếu kém và phải phụ thuộc vào linh kiện từ Phương Tây làm cho Ukraine mất đi quyền tự chủ, nhất là trong xung đột với Nga từ 2022 đến nay. Đây chính là bài học thực tiễn có giá trị trực tiếp đối với Việt Nam.

Như vậy, lập luận "mua ngoài rẻ hơn" là lập luận xảo biện hình thức, triệt tiêu ý chí tự chủ chiến lược. Khi căng thẳng địa chính trị bùng nổ, sản phẩm an ninh bị vô hiệu hóa từ xa thì khả năng tự chủ của quốc gia là điều quyết định.

Hai là, phát triển công nghiệp an ninh làm gia tăng căng thẳng khu vực, thế giới đi ngược đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác

Luận điệu này tinh vi hơn vì mượn danh "hòa bình" để chống lại nỗ lực tự vệ. Nội dung là: Việt Nam xây dựng năng lực an ninh thì các nước láng giềng lo ngại, khu vực mất ổn định, con đường hòa bình bị phá vỡ. Logic đó thực chất là sự nhầm lẫn nghiêm trọng có chủ đích, giữa lực lượng tự vệ và lực lượng gây hấn.

Về lý luận, V.I.Lênin chỉ rõ: "Chúng tôi đã nhiều lần tuyên bố về nguyện vọng hòa bình của chúng tôi… Nhưng chúng tôi không có ý định cho phép kẻ khác nhân danh hòa bình đến bóp chết chúng tôi" [2, tr.176]. Đây là cơ sở lý luận của răn đe chiến lược, nền tảng của ổn định quốc tế suốt nhiều thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sức mạnh tự vệ là nền tảng của hòa bình ổn định.

Kiên định bảo vệ tư duy Đại hội XIV về phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trước sự tấn công mãnh liệt của các thế lực thù dịch (Kỳ 2) - Ảnh 2.

Cần phân biệt rõ hai khái niệm: Năng lực phòng thủ và mối đe dọa tấn công. Năng lực phòng thủ là khả năng ngăn chặn kẻ thù xâm lược đủ để làm cho hành động cưỡng ép trở nên vô nghĩa. Mối đe dọa tấn công là khả năng chiếm đóng, áp đặt bằng sức mạnh đối với quốc gia khác. Hai khái niệm này khác nhau về bản chất. Công nghiệp an ninh Việt Nam thuộc năng lực phòng thủ. Hệ thống trang, thiết bị an ninh bảo vệ hạ tầng quốc gia đều là trang bị phòng thủ, tăng cường khả năng chịu đựng của Việt Nam trước sức ép bên ngoài, không phải năng lực tấn công, chiếm đóng lãnh thổ của bất kỳ ai.

Quán triệt tư tưởng đó, chính sách an ninh của Việt Nam cũng nhất quán và minh bạch: "hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi" [6, tr.2] và "xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị để bảo đảm an ninh quốc gia" [6, tr.2]. Xây dựng công nghiệp an ninh hiện đại không mâu thuẫn với bất kỳ điểm nào trong đó. Khi Việt Nam có năng lực tự bảo vệ thực sự, chính sách an ninh mới có thể được thực hiện nghiêm túc, bởi vì một quốc gia tự vệ được mới có đủ thực lực để từ chối các ràng buộc liên minh mang tính cưỡng ép.

Thực tiễn quốc tế xác nhận điều này. Singapore duy trì ngành công nghiệp quốc phòng và an ninh phát triển ở tầm khu vực, đồng thời thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, không liên minh quân sự, an ninh độc quyền với bất kỳ quốc gia nào. Điều này chứng minh, năng lực tự vệ mạnh không làm Singapore mất đi vai trò ngoại giao. Ngược lại, còn tăng vị thế độc lập, năng lực tự vệ quốc gia. Tại Việt Nam việc đầu tư cho công nghiệp an ninh đã đạt được những kết quả nhất định, năm 2024: "Doanh thu lĩnh vực an toàn thông tin ước đạt 7.179 tỷ đồng, tăng 30%; nộp ngân sách nhà nước đạt 794 tỷ đồng, tăng 156,8%; đã xử lý 8.558 website lừa đảo, vi phạm pháp luật" [7]; "Bên cạnh đó, tổng số hệ thống thông tin trong cơ quan, tổ chức nhà nước là 8.339 hệ thống. Trong đó, 7.817 hệ thống đã được phê duyệt cấp độ an toàn hệ thống thông tin, đạt 93,7%; 622 lượt cán bộ chuyên trách an toàn thông tin được tham gia diễn tập thực chiến" [7] làm cho vị thế, uy tín quốc tế của nước ta không ngừng được tăng cường.

Như vậy, luận điệu xây dựng năng lực tự vệ làm mất ổn định khu vực không có một căn cứ lý luận, thực tiễn nào. Nó chỉ phục vụ lợi ích của những thế lực thù địch muốn Việt Nam duy trì sự yếu đuối chiến lược.

Ba là, Việt Nam nên tập trung vào kinh tế dân sự, không nên phân tán nguồn lực sang công nghiệp an ninh vốn kém hiệu quả kinh tế

Đây là luận điệu tinh vi nhất trong ba luận điệu, bởi nó tấn công vào lựa chọn phân bổ nguồn lực quốc gia cho đầu tư và phát triển. Bản chất của nó cho rằng công nghiệp an ninh là gánh nặng ngân sách, tiêu tốn nguồn lực mà không tạo ra giá trị kinh tế. Chỉ tập trung vào khu vực dân sự mới là con đường phát triển đúng đắn. Lập luận này sai ở tận gốc rễ, bởi nó không hiểu bản chất của mối quan hệ giữa công nghiệp an ninh và nền kinh tế hiện đại.

Về lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: "mối quan hệ biện chứng giữa sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất" [4, tr.996]. Do vậy, công nghiệp an ninh hiện đại không nằm ngoài quy luật này. Nó vừa là lực lượng sản xuất tiên tiến, vừa tạo ra quan hệ sản xuất mới thông qua các mô hình hợp tác công - tư trong nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm an ninh lưỡng dụng. Đại hội XIV đã bác bỏ tư duy đó một cách căn bản khi xác lập công nghiệp an ninh là "nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao" [1, tr.114], là thành tố hữu cơ, quan trọng của công nghiệp quốc gia, của chiến lược phát triển tổng thể, không phải gánh nặng ngoại vi. Trong mô hình "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" mà Đại hội XIV xác lập, công nghiệp an ninh Việt Nam được định hướng tạo ra vòng tuần hoàn giá trị tích cực. Sản phẩm an ninh lưỡng dụng vừa phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vừa tham gia thị trường dân sự tạo nguồn thu. Camera thông minh, hệ thống giám sát đô thị thông minh, nền tảng quản lý cư trú số, ứng dụng phòng chống tội phạm… đều là sản phẩm công nghiệp an ninh có giá trị thương mại rõ ràng. Ngân sách đầu tư cho công nghiệp an ninh hiện nay là đầu tư vào hệ sinh thái công nghệ có khả năng lan tỏa và tái sinh giá trị qua nhiều chu kỳ. Định nghĩa "hiệu quả kinh tế" trong kỷ nguyên phát triển mới phải bao gồm cả hiệu ứng lan tỏa công nghệ, hiệu ứng tạo hệ sinh thái và chi phí cơ hội của sự phụ thuộc chiến lược. Khi tính đủ các yếu tố đó, đầu tư vào công nghiệp an ninh hiện đại là lựa chọn kinh tế đúng đắn, không phải gánh nặng.

Thực tiễn lịch sử đổi mới công nghệ trong hai thế kỷ qua cho thấy: Phần lớn công nghệ nền tảng của nền kinh tế dân sự hiện đại đều có nguồn gốc từ đầu tư quân sự và an ninh. Bài học từ các cường quốc này là kinh nghiệm cho Việt Nam ứng dụng logic tương tự ở quy mô phù hợp. Israel biến công nghiệp an ninh thành động lực xuất khẩu công nghệ hàng đầu: "ngành CNQP Israel có khoảng 150 công ty. Trong đó, 3 tập đoàn chủ chốt và lớn nhất thuộc sở hữu nhà nước là IAI (Israel Aircraft Industries), IMI (Israel Military Industries) và RADS (Rafael Arms Development System). Các công ty thuộc sở hữu tư nhân có quy mô trung bình gồm Elbit Systems và Tadiran Group, chuyên sản xuất thiết bị điện tử quân sự" [5]. Hàn Quốc từ quốc gia nhập khẩu vũ khí hoàn toàn vào những năm 1970 đã trở thành nhà xuất khẩu vũ khí lớn thứ tám thế giới năm 2023, với các tổ hợp công nghiệp quốc phòng như Hanwha, LIG Nex1 là đầu tàu đổi mới công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế. Trong điều kiện của mình, Việt Nam chứng minh điều đó là khả thi: Mobifone, GTEL đang có những thành công vang dội trong nước và quốc tế. Đây không phải các trường hợp ngoại lệ, mà là quy luật: Nền kinh tế công nghiệp hóa thành công nhất đều có tổ hợp công nghiệp an ninh, quốc phòng đủ mạnh bởi vì tổ hợp đó là "lò đúc" của đổi mới công nghệ nền tảng.

Luận điệu "tập trung kinh tế dân sự" còn bỏ qua một thực tế không thể tranh cãi: An ninh là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mọi kế hoạch phát triển kinh tế đều vô nghĩa nếu môi trường an ninh bị đe dọa. Nhà đầu tư nước ngoài không đổ vốn vào nơi bất ổn. Doanh nghiệp trong nước không mở rộng khi an ninh xã hội không được đảm bảo. Hạ tầng kinh tế không thể phát triển bền vững nếu hạ tầng thông tin quốc gia bị tấn công mạng. Chi phí duy trì công nghiệp an ninh thực ra là chi phí bảo hiểm cho toàn bộ hoạt động kinh tế. Luận điệu tách rời an ninh và kinh tế coi chúng là đối lập nhau là sai lầm phương pháp luận căn bản. Vì thế đây không phải lý luận kinh tế học nghiêm túc. Quan điểm này hông phản ánh quy luật của nền kinh tế công nghệ cao hiện đại. Đó là cố gắng áp đặt tư duy phát triển phân mảnh, phi tổng thể nhằm gây ra sai lầm trong phân bổ nguồn lực chiến lược quốc gia.

Nhìn tổng thể, ba luận điệu phân tích ở trên có điểm chung: Tất cả đều hướng đến mục tiêu làm Việt Nam từ bỏ tự chủ chiến lược trong phát triển công nghiệp an ninh. Luận điệu thứ nhất tấn công vào ý chí tự sản xuất. Luận điệu thứ hai tấn công vào quyết tâm xây dựng năng lực tự vệ. Luận điệu thứ ba tấn công vào chính đáng tính của đầu tư nguồn lực quốc phòng, an ninh. Việc nhận diện rõ lôgic nội tại của từng luận điệu là công cụ bảo vệ nền tảng tư tưởng quan trọng nhất, không phải phủ nhận bằng khẩu hiệu, mà là bác bỏ bằng lý luận khoa học và thực tiễn. Tư duy Đại hội XIV về phát triển công nghiệp an ninh hiện đại với mô hình "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" là câu trả lời có căn cứ khoa học, lịch sử và thực tiễn đầy đủ để bác bỏ mọi luận điệu làm suy giảm ý chí tự chủ chiến lược của Việt Nam.

Vũ Anh Quân - Học viện Quốc tế, Bộ Công an

(Còn tiếp, mời đọc kỳ 3)


TÀI LIỆU TRÍCH DẪN


1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.

2. V.I.Lênin (2006), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 40.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 7.

4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 12.

5. Nguyên Phong (2021), Cách Israel đưa công nghiệp quốc phòng lên tầm cỡ thế giới, Vietnamnet, https://vietnamnet.vn/cach-israel-dua-cong-nghiep-quoc-phong-len-tam-co-the-gioi. 


6.html#:~:text=Hi%E1%BB%87n%20nay%2C%20ng%C3%A0nh%20CNQP%20Israel,s%E1%BB%91%20s%E1%BA%A3n%20ph%E1%BA%A9m%20h%E1%BA%B9p%20h%C6%A1n, truy cập ngày 19/3/2021.

7. Quốc hội (2004), Luật an ninh quốc gia số 32/2004/QH11 ngày 03/12/2004, Hà Nội.

8. Phạm Vinh (2024), Doanh thu lĩnh vực an toàn thông tin mạng đạt 7.179 tỷ đồng, tăng 30%, VnEconomy,https://vneconomy.vn/doanh-thu-linh-vuc-an-toan-thong-tin-mang-dat-7-179-ty-dong-tang-30.htm#:~:t ext=%C4% 90% C3 %A1ng%20ch%C3%BA%20%C3%BD%2C%20so%20v%E1%BB%9Bi,249%20lao%20%C4%91%E1%BB%99ng%2C%20t%C4%83ng%2019%2C4, truy cập ngày 30/12/2024.