Việc triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bỏ cấp huyện phản ánh rõ nét tư duy đổi mới, giảm tầng nấc trung gian để rút ngắn quy trình, bứt phá về tốc độ ra quyết định, xoá vùng xám trách nhiệm. Tuy nhiên, cùng với đó là sự xuất hiện những khoảng trống ảnh hưởng trực tiếp đến nút buộc sợi dây đồng tâm liên kết giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Khoảng trống kết nối
Rõ ràng, sơ đồ tổ chức bộ máy đã được vẽ lại, nhưng những "mạch ngầm" của đời sống xã hội, nơi diễn ra sự tương tác giữa chính quyền và Nhân dân lại không dễ thay đổi bằng những đường kẻ hành chính. Điều biến mất không chỉ là một cấp quản lý, mà là bỏ đi một "lớp đệm" vốn đã tồn tại lâu dài trong hệ thống.
Trước đây, những bất cập ban đầu, những "lệch pha" giữa quy định và đời sống thường được chảy qua màng lọc trung gian, được "giảm sóc" trước khi đi vào đời sống thực tiễn. Khi "lớp đệm" ấy không còn, dòng chảy thông tin đi trực tiếp từ cấp tỉnh xuống cấp xã và ngược lại mà thiếu màng lưới lọc. Chủ trương, quyết sách có thể đi nhanh hơn, nhưng không phải lúc nào cũng đi sâu hơn. Dư luận xã hội có thể được tiếp nhận hanh hơn, nhưng cũng rất dễ rơi vào tình trạng thiếu kênh đủ uy tín để định hướng. Đây không phải khoảng trống quyền lực, mà là khoảng trống của kết nối.
Khoảng trống giám sát
Khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, quyền lực được phân cấp mạnh mẽ cho cấp cơ sở. Theo đó, nguy cơ "lệch chuẩn" trong thực thi công vụ càng hiện hữu nếu thiếu cơ chế kiểm soát tương xứng.
Khi cấp huyện không còn, xã, phường từ vị trí chủ thể thực thi chính sách chuyển thành "trung tâm xử lý tại chỗ", trực tiếp giải quyết các lĩnh vực đất đai, xây dựng đến an sinh, xã hội, khiếu nại, tố cáo, cung ứng dịch vụ công. Quyền hạn lớn hơn, trách nhiệm nặng hơn, nhưng nếu cơ chế giám sát không được "nâng cấp" tương ứng thì nạn lạm quyền, né trách nhiệm hay hành chính hóa quan hệ với dân rất dễ nảy sinh.
Bên cạnh đó, cần nhìn nhận, pháp luật đã trao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chức năng giám sát và phản biện xã hội, nhưng thực tiễn cho thấy ở không ít nơi, hoạt động này vẫn còn tình trạng lựa chọn vùng "an toàn hóa", né tránh những lĩnh vực nhạy cảm, trong khi đó lại chính là những điểm nóng của đời sống. Khoảng trống giám sát không chỉ nằm ở quy định, mà nằm ở cách thức triển khai. Nếu quyền lực càng gần dân mà giám sát không theo kịp, thì khoảng cách niềm tin sẽ bắt đầu từ chính nơi gần nhất. Và khi triển khai mô hình mới, cần hiểu rằng giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm, mà phải trở thành một cơ chế cảnh báo sớm, ngăn ngừa ngay từ gốc.
Khoảng trống đại diện
Xã hội đang chuyển động với nhịp độ cao, kéo theo sự xuất hiện của những nhóm chủ thể mới đồng trên không gian số. Như vậy, đối tượng quy tụ, tập hợp của Mặt trận không còn là những đối tượng truyền thống mà xuất hiện những chủ thể vô cùng đặc biệt như cộng đồng trên không gian số, những chủ thể thường xuyên di động. Trong bối cảnh ấy, đại diện không còn là tập hợp đông đủ, mà là nhận diện đúng và tiếp cận trúng.
Chính vì vậy, Mặt trận buộc phải chuyển từ tiếp cận theo địa bàn sang theo nhóm xã hội, từ hội nghị trực tiếp sang nền tảng số, từ vận động đại trà sang lắng nghe theo vấn đề. Nếu không, ngay cả khi bộ máy được tinh gọn, một bộ phận Nhân dân vẫn có thể đứng ngoài quá trình vòng tròn chính sách. Và nếu đặt bất kỳ ai ra khỏi vòng kết nối giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân thì khối đồng thuận xã hội sẽ bị bào mòn.
Khoảng trống phản biện "từ sớm, từ xa"
Mô hình chính quyền 2 cấp đang rút ngắn đáng kể quy trình điều hành, giúp chính sách đến nhanh hơn với thực tiễn. Nhưng chính ở điểm mạnh ấy lại tiềm ẩn một "điểm nghẽn" khi chính sách được lấy ý kiến ở giai đoạn cuối lúc phương án đã gần như "đóng khung" thì phản biện dễ trở thành thủ tục, không còn là công cụ điều chỉnh. Khi đó, Mặt trận có mặt nhưng chưa chắc có vai. Thực tiễn cho thấy, vị thế tham gia phản biện của Mặt trận trong nhiều quy trình trọng yếu chưa được thiết lập như một cơ chế bắt buộc, dẫn đến tình trạng phản biện đến muộn, thiếu sức nặng và mất tính thời sự. Đây là vấn đề dễ phát sinh hệ luỵ trong hoạch định chính sách ở cấp cơ sở nơi mỗi quyết định đều tác động trực tiếp đến đời sống dân sinh.
Trong bối cảnh mới, phản biện không thể đi sau chính sách, mà phải đi cùng chính sách, từ khâu nhận diện, thai nghén dự thảo, lựa chọn phương án đến đánh giá tác động và giám sát thực thi. Mặt trận không chỉ góp ý cho văn bản, mà phải "soi" chính sách bằng lăng kính đời sống, để mỗi quyết định không chỉ đúng trên giấy, mà còn trúng trong thực tế.
Khoảng trống nguồn lực khi nhiệm vụ "nặng cấp số nhân"
Mô hình chính quyền 2 cấp đang đẩy Mặt trận cấp cơ sở vào một thực tế mới: địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn, vấn đề phức tạp hơn nhưng nguồn lực không tăng tương xứng. Với 5 vị trí việc làm cả lãnh đạo và chuyên viên theo quy định số 4254-QĐ/BTCTW ngày 31/12/2025 của Ban Tổ chức Trung ương về ban hành Danh mục vị trí việc làm công chức Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấpnếu không "vén khéo", rất dễ xảy ra tình trạng quá tải. Khi "sân chơi" mở rộng mà "đội hình" không đủ dày, áp lực dồn lên từng cán bộ là điều khó tránh. Đây không chỉ là thiếu người, mà là thiếu cả công cụ, kỹ năng và điều kiện để thực hiện trọn vẹn chức năng giám sát, phản biện xã hội.
Hệ quả là một trạng thái quá tải đang hiện diện rõ nhiệm vụ nhiều hơn, yêu cầu cao hơn, kỳ vọng lớn hơn nhưng năng lực thực thi chưa theo kịp. Trong khi đó, bối cảnh mới đòi hỏi cán bộ Mặt trận không chỉ biết vận động, mà còn phải am hiểu pháp luật, phân tích chính sách, đối thoại với dân, xử lý dữ liệu và dám va chạm với những vấn đề nhạy cảm. Nếu không được chuyên nghiệp hóa, Mặt trận rất dễ bị "kéo lùi", trong khi thực tiễn đang cần một thiết chế phản hồi chính sách có trọng lượng.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, cải cách bộ máy không làm nhẹ đi vai trò của Mặt trận, mà đặt ra yêu cầu cao hơn, kết nối phải sâu hơn, giám sát phải sắc hơn, phản biện phải sớm hơn, đại diện phải rộng hơn, và lắng nghe phải hiện đại hơn. Thành công của cải cách không nằm ở việc bộ máy gọn lại, mà ở việc lòng dân có nối dài đủ để lấp đầy các khoảng trống khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hay không.
Trương Thị Điệp
Phó Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị TP. Đà Nẵng